Thứ Năm, Ngày 02/10/2014
Kỹ thuật nuôi ốc hương thương phẩm (Tin ngày: 22/09/2009)

Nhờ áp dụng tốt qui trình kỹ thuật nuôi ốc Hương thương phẩm và kinh nghiệm nuôi, bà con ngư dân vùng ven thôn Tân An, thôn Khánh Hội, xã Tri Hải và thôn Mỹ Tân, xã Thanh Hải thuộc huyện Ninh Hải đã thực hiện tốt từ khâu cải tạo ao, lồng nuôi, chọn giống, chăm sóc và đặc biệt là công tác quản lý ao nuôi, cùng với điều kiện thời tiết trong năm khá thuận lợi ốc Hương sinh trưởng, phát triển rất tốt.


Ốc hương là loài động vật thân mềm biển có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao do thịt thơm ngon, giàu chất dinh dưỡng được nhiều người ưa chuộng. Để bảo vệ nguồn lợi ốc hương và có đủ lượng cung cấp cho thị trường cần phải tiến hành nuôi trong điều kiện nhân tạo...

I. Phân bố

Ở nước ra, ốc hương phân bố dọc ven biển từ Bắc vào Nam, trong đó khu vực phân bố chính thuộc các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị và đặc biệt nhiều ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Kiên Giang, Vũng Tàu.

Khu vực ốc hương phân bố thường cách xa bờ 2 – 3 km, có nền đáy gồ nghề tương đối dốc; Chất đáy là cát hay cát pha lẫn mùn bã hữu cơ, độ sâu trung bình 8 –12 m. Ốc hương sống vùi ở đáy cát. Một số yếu tố thuỷ lý, thuỷ hoá vùng phân bố của ốc hương được xác định như sau:

- Nhiệt độ nước : 26 – 280C
- Độ mặn : 340/00 - pH : 7,5 – 8
- Oxy hoà tan :6,2 – 8,5

II: Khả năng thích nghi với điều kiện môi trường

1. Chất đáy:

Ốc hương con thường bắt gặp ở vùng đáy cát có lớp bùn mềm trên mặt; Ốc hương trưởng thành sống chủ yếu ở nền đáy cát, cát bùn hoặc cát có pha lẫn vỏ động vật thân mềm. Ở những vùng đáy có nhiều mùn bã hữu cơ và khí H2S ốc hương thường không phân bố hoặc di chuyển đến vùng đáy cát sạch hơn.

2. Độ mặn:

Ốc hương phân bố ở vùng biển khơi nên chúng là loài hẹp muối. Độ mặn thích hợp nhất cho ốc hương phát triển là từ 30 – 350/00. Ấu trùng bò, con non và con trưởng thành có khả năng thích nghi với độ mặn từ 15 – 450/00 nếu được thuần hoá dần dần. Việc tăng hoặc giảm độ mặn đột ngột đều gây chết cho ốc do bị sốc.

3. Nhiệt độ:

Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của ốc hương là từ 26 – 280C. Ốc hương có khả năng chịu đựng nhiệt độ từ 12 – 350C. Khả năng thích ứng với nhiệt độ thấp của ốc hương tốt hơn thích ứng với nhiệt độ cao. Nhiệt độ trên 350C đã bắt đầu gây chết ốc nếu kéo dài trong khoảng 24 giờ.

4.Oxy hoà tan:

Hàm lượng oxy hoà tan cần duy trì ở mức từ 4 - 6 mg/l.

5. pH:

Độ pH không ảnh hưởng nhiều đến ốc hương (trừ giai đoạn ấu trùng bơi). PH thích hợp nhất cho ốc hương là từ 6 - 9.

III. Đặc điểm dinh dưỡng:

Đặc điểm dinh dưỡng của ốc hương thay đổi theo giai đoạn phát triển. Ở giai đoạn ấu trùng ốc hương ăn chủ yếu các loài tảo đơn bào. Từ giai đoạn ốc giống đến trưởng thành thức ăn ưa thích của ốc hương là động vật thân mềm hai mảnh vỏ (trai, sò, nghêu...), các loại giáp xác (tôm, cua, ghẹ), cá. Lượng thức ăn ốc hương tiêu thụ hàng ngày dao động từ 5 - 22% (trung bình 12%) tùy thuộc vào loại thức ăn ưa thích và điều kiện môi trường nuôi. Các kết quả thí nghiệm cho thấy thức ăn nhuyễn thể hai mảnh vỏ , tôm có chất lượng cao, mùi vị ưa thích được ốc hương ăn nhiều nhất, các loại cá ít được ốc ưa thích.

IV. Đặc điểm sinh sản:

1. Giới tính:

Ốc hương là loài có giới tính phân biệt và thụ tinh trong. Nếu quan sát bên ngoài không thể phân biệt được ốc đực và ốc cái. Để phân biệt được giới tính của ốc người ta dựa vào nhiều đặc điểm khác nhau; Trong đó có hai đặc điểm dễ quan sát nhất là:
- Con đực có gai giao cấu ở gốc xúc tu phải, đó là một nếp thịt có thể co giãn, nối với một ống dẫn nhỏ đi từ tuyến sinh dục.
- Con cái có lỗ sinh dục ở dưới bàn chân, cách 1/4 chiều dài bàn chân.

2. Sự đẻ trứng:

Ốc hương có khả năng thành thục quanh năm. Tỉ lệ thành thục cao nhất từ tháng 3 - tháng 10. Ốc hương cái mỗi lần đẻ từ 18 đến 75 bọc trứng (trung bình 38 bọc), mỗi bọc trứng chứa từ 170 - 1850 trứng.

Kỹ thuật nuôi ốc hương

Có 4 loại hình nuôi ốc hương thương phẩm: nuôi đăng, nuôi lồng, nuôi ao đất, nuôi bể ximăng. Tùy thuộc điều kiện tự nhiên, vị trí nuôi từng vùng mà chọn loại hình nuôi cho thích hợp.

I. Nuôi ốc hương trong đăng, lồng

1. Điều kiện vùng nuôi:

- Vị trí đặt lồng hoặc cắm đăng nuôi ở vùng nước trong sạch
- Chất đáy: cát hoặc cát san hô, ít bùn.
- Độ mặn: ổn định trong khoảng 25 - 350/00 .
- Nguồn nước: trong sạch và không bị ảnh hưởng của nước ngọt do tác động của nước sông vào mùa mưa.
- Độ sâu: độ sâu đặt lồng hoặc cắm đăng từ 1,5 m nước trở lên.

2. Cấu tạo lồng, đăng:

- Diện tích lồng: từ 1 - 4m2, khung lồng làm bằng sắt, có lưới bảo vệ bên ngoài ngăn không cho cá dữ, cua ghẹ lọt vào ăn ốc. Lồng nuôi phải được chôn sâu dưới lớp cát đáy 5cm để có nền cát cho ốc vùi mình.

- Đăng làm bằng tre, có bao lưới xung quanh ngăn không cho cá dữ, cua ghẹ lọt vào ăn ốc. Độ cao lưới cắm đăng phải vượt quá mức nước triều cao nhất 1 m để ốc không bị sóng đánh ra ngoài. Đăng nuôi phải chôn sâu xuống dưới cát ít nhất 10 cm để tránh ốc chui ra ngoài.

3. Thả giống:

- Cỡ giống thả tối thiểu đạt 8.000 - 10.000 cn/kg trở lên.
- Mật độ thả : 500 - 1000 con/m2. Trước khi thả cần phải để ốc giống thích nghi dần với nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước, không được thả ngay để tránh hiện tượng gây sốc nhiệt cho ốc.

4. Chăm sóc, quản lý:

- Thức ăn: Cá, cua, ghẹ, trai nước ngọt....
- Cho ăn: Mỗi ngày cho ốc hương ăn một lần vào buổi chiều tối, lượng thức ăn tùy theo tháng tuổi.
   + Tháng thứ nhất : 15 - 20% trọng lượng ốc nuôi.
   + Tháng thứ hai : 10 - 15% trọng lượng ốc nuôi.
   + Tháng thứ ba : 8 - 10% trọng lượng ốc nuôi 
   + Tháng thứ tư về sau: 5 - 7% trọng lượng thân ốc nuôi.

Cá không quá nhỏ, để nguyên con thả vào cho ăn; Trai, sò, hầu....đập vỡ vỏ; Cua ghẹ lột mai đập bể càng trước khi cho ăn.
- Hàng ngày theo dõi lượng thức ăn để điều chỉnh cho phù hợp. Vớt toàn bộ thức ăn thừa, xương, đầu, cá, vỏ sò... ra khỏi lồng để tránh ô nhiễm nước.
- Trong quá trình nuôi thường xuyên kiểm tra lưới, phát hiện kịp thời địch hại để diệt trừ, thường xuyên làm vệ sinh lồng lưới để nước lưu thông.
- Trường hợp nuôi lâu đáy lồng quá bẩn, có mùi hôi ốc hương sẽ không ăn và yếu dần, cần chuyển lồng sang vị trí mới. Nuôi trong đăng cắm cố định cần ngăn thành nhiều ngăn, ốc hương được chuyển sang ngăn mới khi ngăn cũ nuôi lâu ngày đáy bẩn.

5. Thời gian nuôi:

Thời gian nuôi từ 5 - 6 tháng tùy theo điều kiện môi trường nuôi và quá trình quản lý, chăm sóc.

6. Thu hoạch:

- Khi ốc nuôi đạt kích thước 90 - 150 con/kg có thể thu hoạch bán thương phẩm. - Thu hoạch ốc hương trong đăng bằng cách đặt bẫy hoặc lặn bắt. - Thu hoạch ốc hương trong lồng đơn giản bằng cách nhấc lồng nhặt ốc. - Ốc sau khi thu hoạch cần nhốt trong giai hoặc trong bể 1 -2 ngày để làm sạch bùn đất và làm trắng vỏ trước khi xuất ra thị trường xuất khẩu.

II. Nuôi ốc hương trong ao

1. Điều kiện ao nuôi:

- Vị trí: Ao nuôi phải gần biển để có thể lấy và tháo nước dễ dàng.
- Nguồn nước: Trong sạch, không bị ảnh hưởng nước ngọt do tác động của nước sông vào mùa mưa.
- Ao có bờ chắc chắn, có lưới chắn xung quanh mép nước để ngăn không cho ốc bò lên bờ cao. Ở cống cấp nước phải có lưới chắn để ngăn không cho cá dữ, cua ghẹ vào ăn ốc con
- Trước khi nuôi phải tẩy dọn ao sạch sẽ và diệt trừ địch hại.

2. Các yếu tố môi trường trong ao nuôi:

- Độ mặn: ổn định từ 25 - 35 0/00 .
- pH: 7,5 - 8,5
- Độ sâu: Từ 1 - 1,2 m để đảm bảo nhiệt độ nước từ 26 - 300C

3. Thả giống:

- Kích cỡ giống: Cỡ giống thả 5000 - 6000 con/kg.
- Mật độ thả: 50 - 100 con/m2
Trước khi thả cần phải để ốc giống thích nghi dần với nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước, không được thả ngay để tránh hiện tượng gây sốc nhiệt cho ốc.

4. Chăm sóc quản lý:

- Thức ăn: Cá, cua, ghẹ, trai nước ngọt....
- Cho ăn: Mỗi ngày cho ốc hương ăn một lần vào buổi chiều tối, lượng thức ăn tùy theo tháng tuổi.
   + Tháng thứ nhất : 15 - 20% trọng lượng ốc nuôi.
   + Tháng thứ hai : 10 - 15% trọng lượng ốc nuôi.
   + Tháng thứ ba : 8 - 10% trọng lượng ốc nuôi
   + Tháng thứ tư về sau: 5 - 7% trọng lượng thân ốc nuôi.
Cá không quá nhỏ, để nguyên con thả vào cho ăn; Trai, sò, hầu....đập vỡ vỏ; Cua ghẹ lột mai đập bể càng trước khi cho ăn.
- Thức ăn được thả vào các sàn hoặc vó, đặt đều khắp trong ao
- Theo dõi lượng thức ăn thừa hàng ngày để điều chỉnh hệ số thức ăn cho phù hợp.
- Buổi sáng vớt toàn bộ thức ăn thừa, xương, đầu cá, vỏ sò.. trong các sàn ăn hoặc vó ra khỏi ao để tránh ô nhiễm nước trong ao.
- Trường hợp nuôi lâu đáy ao quá bẩn, có mùi hôi ốc hương sẽ không ăn và yếu dần, cần chuyển ốc sang ao mới và cải tạo lại ao cũ sạch sẽ trước khi dùng lại.
- Thay nước thường xuyên giữ môi trường ao nuôi luôn sạch sẽ là điều kiện tốt giúp cho ốc lớn nhanh.

5. Thời gian nuôi:

Thời gian nuôi từ 5 - 6 tháng tùy theo điều kiện chăm sóc và môi trường ao nuôi.

6. Thu hoạch:

- Khi ốc nuôi đạt kích thước 90 - 150 con/kg có thể thu hoạch bán thương phẩm.
- Tháo cạn nước trong ao, nhặt bắt ốc bằng tay hoặc dùng cào sắt để gom ốc.
- Do ốc thường chui sâu trong lớp đáy ao khi rút cạn nước vì vậy cần nhặt bắt kỹ để tránh bỏ sót ốc trong ao.
- Sau khi thu hoạch nhốt ốc trong giai hoặc trong bể 1 - 2 ngày để làm sạch bùn đất và làm trắng vỏ.

Lưu ý:
- Cần chú trọng yếu tố nhiệt độ và độ mặn trong ao nuôi.
- Khi nuôi ốc hương với mật độ cao phải đảm bảo môi trường nước luôn trong sạch; Sử dụng máy quạt nước, sục khí thường xuyên để tránh hiện tượng thiếu oxy do ô nhiễm đáy.

III. Nuôi ốc hương trong bể ximăng:

1. Điều kiện bể nuôi:

- Bể ximăng có che bớt ánh sáng bằng lưới chắn nắng để nhiệt độ trong bể nuôi không quá 32 0C vào mùa hè.
- Đáy bể lót một lớp cát mịn dày 2 - 3 cm.

2. Các yếu tố môi trường:

Cần điều khiển các yếu tố môi trường trong bể sau cho:
- Độ mặn: 30 - 350/00.
- Nhiệt độ: 27- 29oC.
- pH : 7,5 - 8,5.
- Sục khí liên tục 24/24 giờ để đảm bảo hàm lượng oxy hòa tan > 4,5 mg/l.
Những ngày mưa lớn cần xả bớt lớp nước tầng mặt và giữ không cho độ mặn giảm xuống dưới 200/00. Có thể nuôi ở mức nước từ 0,5 - 1,2 m.

3. Thả giống:

Tùy theo tháng tuổi của ốc hương mà mật độ nuôi khác nhau:
- Tháng thứ nhất : 800 - 1.000 con/m2 ( ốc hương mới sinh sản thành giống)
- Tháng thứ hai : 500 - 800 con/m2.
- Tháng thứ ba : 200 - 300 con/m2.
- Tháng thứ tư về sau : 100 - 200 con/m2.

4. Chăm sóc quản lý:

a. Cho ăn:

- Cho ốc hương ăn tôm, cá, thịt nghêu băm nhỏ (đã bỏ xương, vỏ). Thức ăn được rãi đều khắp bể nuôi vì ốc hương giai đoạn nhỏ chỉ vận động được trong một bán kính nhất định.
- Mỗi ngày cho ốc hương ăn 1 lần vào buổi chiều tối.
-  Lượng thức ăn tùy theo tháng tuổi:
   + Tháng thứ nhất : 15 - 20% trọng lượng ốc nuôi.
   + Tháng thứ hai : 10 - 15% trọng lượng ốc nuôi.
   + Tháng thứ ba : 8 - 10% trọng lượng ốc nuôi
   + Tháng thứ tư về sau: 5 - 7% trọng lượng thân ốc nuôi.

b. Chăm sóc, quản lý:

- Theo dõi lượng thức ăn thừa hàng ngày để điều chỉnh hệ số thức ăn cho phù hợp.
- Buổi sáng vớt toàn bộ thức ăn thừa, xương, đầu, cá, vỏ sò... ra khỏi bể trước khi thay nước và cho ăn.
- Thay từ 50 - 70% nước trong bể mỗi ngày. Định kỳ súc rửa đáy và thay lớp cát mới khi thấy đáy có mùi hôi và ốc kém ăn.
- Giữ môi trường bể nuôi luôn sạch sẽ là điều kiện tốt giúp ốc lớn nhanh.
- Trường hợp nuôi lâu đáy bể quá bẩn, có mùi hôi, ốc sẽ không ăn và yếu dần, cần chuyển ốc sang bể mới và vệ sinh bể sạch sẽ trước khi dùng lại.

5. Thời gian nuôi:

- Thời gian nuôi từ 5 - 7 tháng tùy theo điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng.

6. Thu hoạch:

- Khi ốc đạt kích thước 90 - 150 con/kg có thể thu hoạch bán thương phẩm.
- Cách thu như sau: Tháo cạn nước trong bể, dùng tay bắt toàn bộ ốc trong bể, những con đủ kích cỡ thương phẩm thì thu riêng, còn lại những con chưa đủ tiêu chuẩn thu hoạch đưa vào bể nuôi khác có con giống cùng cỡ tiếp tục nuôi cho đến kích thước thương phẩm.

Phòng và trị bệnh

Nghề nuôi ốc hương chỉ mới xuất hiện vài năm trở lại đây và mang tính tự phát, vấn đề dịch bệnh chưa xảy ra nhiều và cũng chưa được nghiên cứu sâu. Tuy nhiên, với bất cứ đối tượng nuôi nào để nuôi đạt hiệu quả thì i phòng bệnh là chính.

I. Phòng bệnh:

1. Thả giống đủ kích cỡ, không nên thả giống quá non.
2. Giữ vệ sinh lồng, ao, bể nuôi luôn sạch sẽ.
3. Duy trì các yếu tố môi trường ở mức thích hợp nhất; chú trọng yếu tố độ mặn và nhiệt độ.

II. Bệnh ốc hương:

Gần đây chỉ mới phát hiện được một số loại trùng lông (tên khoa học là Ciliphora) gây nên hiện tượng ốc hương nuôi lồng chết hàng loạt ở Khánh Hòa vào cuối năm 2002.

Triệu chứng bệnh: Lúc đầu biếng ăn, nổi lờ đờ, khoảng 10 - 15 ngày sau thì chết hàng loạt.

Nguyên nhân:
- Do đầu tư nuôi tràn lan thiếu quy hoạch.
- Thả con giống chưa đủ kích cỡ.
- Môi trường vùng nuôi bị ô nhiễm do lượng vật chất hữu cơ có sẳn trong nước cộng với thức ăn thừa.

(Theo vista.gov.vn)
2
TÌM KIẾM
Nhập từ khoá cần tìm
 

 
Số lượt truy cập: 6,307,830