|
|
 |
|
Con gái cưới chồng. |
Nghi lễ sinh
đẻ:
Theo quan niệm của người Chăm, mục
đích của cuộc hôn nhân là sinh đẻ con cái đặc biệt là con gái, để
có người nối dõi dòng họ. Ngược lại không có con là điều bất hạnh
lớn nhất cho các cặp vợ chồng. Những người đàn bà lập gia đình mà
không có con thường xin con hoặc cháu của chị em mình nuôi, để nối
dõi và trông coi gia đình.
Trước năm 1975, ở hầu hết các vùng người Chăm sinh sống không có
trạm y tế, nhiều bệnh tật, dịch tả đã xảy ra dẫn đến tử vong rất
cao, điều đó càng khuyến khích ước muốn có nhiều con. Ngày nay do
phương tiện khoa học phát triển, nhiều cơ sở y tế đã mở ra ở các
địa phương làm giảm dần tỷ lệ tử vong.
Ở người Chăm trước đây cũng như hiện
nay, phụ nữ có thai phải kiêng cữ nhiều thứ, không được ăn đu đủ
bởi sợ hài nhi mai kia có khuôn mặt na ná dạng hình trái đu đủ
không ai ưa. Họ không ăn chuối hột, đặc biệt không ngồi ở lối cửa
ra vào bởi sợ tà ma làm cho đau yếu, ngoài ra không dùng bát đĩa
để ăn cơm vì họ sợ rằng thai nhi lớn giống như cái bát, đĩa, sẽ đẻ
khó.
Phụ nữ Chăm thường đẻ ngồi ở trong
buồng được che kín, hai tay vịn chặt vào cột nhà hoặc nắm chặt vào
người thân. Trong thời gian sinh nở, theo phong tục không cho phép
người khác tới gần trừ bà mẹ và bà mụ. Sau khi đứa trẻ sinh ra bà
mụ cắt rốn bằng một vật bén như dao hay bằng một mảnh tre hoặc cây
giang (nôi), đồ cắt rốn chỉ dùng một lần rồi bỏ. Nhau được đem
chôn ở trong khuôn viên nhà, có khi chôn ở trước cổng nhà để đứa
trẻ lớn lên sẽ giỏi và khôn ngoan. Người ta phải lựa những giờ
vắng để chôn nhau chẳng hạn vào lúc xế trưa, khi chôn phải lặng
thinh, không được nói chuyện.
Theo cụ Thập Thị Cua ở làng Văn Lâm,
huyện Ninh Phước, Ninh Thuận kể: Trước đây sản phụ Chăm nằm sinh
trong một cái chòi riêng. Sản phụ nằm ở đây trong một tuần lễ,
xông hơ bằng lửa ngọn nên gọi là “nằm lửa lớn”. Thời gian này việc
kiêng cữ rất được chú ý, cấm các phụ nữ đến thăm trừ người thân,
vì sợ sản phụ lây chứng bệnh do người khác mang tới vì “máu còn
non”. Qua một tuần bà mụ làm lễ vái tổ và đưa sản phụ vào nằm
trong nhà, xông hơ bằng lửa than, và từ đó hết kiêng cữ. Đứa trẻ,
sau khi cắt rốn thì cho tắm rửa bằng nước nấu với lá có mùi thơm
để nguội và quấn tã bằng quần áo cũ của bố mẹ để đứa trẻ quen hơi
bố mẹ nó.
Thông thường khi trong gia đình có
người sinh đẻ, người ta đốt một đám lửa ở giữa sân để mọi người
biết. Trước sân nhà người ta còn đóng một cây cọc, chẻ đầu cọc ra,
lấy một cây lửa đã tắt dắt lên. Sinh con gái thì đầu lửa quay vô,
sinh con trai thì đầu lửa quay ra với ý nghĩa là con gái thì ở với
mình, con trai lớn lên theo vợ về nhà khác. Sau đó người ta treo
nhánh xương rồng trước cổng ra vào, 7 ngày cho con trai và 9 ngày
cho con gái. Đủ ngày thì hốt bếp nhổ cọc, có nơi không có định
ngày, mà treo cho đến khi hết kiêng cữ thì thôi.
Để giữ gìn cho đứa trẻ khỏi tác động
có hại của các lực lượng siêu nhiên, người ta áp dụng các biện
pháp như đeo bùa chú, đeo vòng (làm bằng dây).
Lễ Khan Prók (Trình
tổ tiên):
Nghi lễ này rất đơn giản, với ý nghĩa
công nhận đứa trẻ mới ra đời này là một thành viên mới của gia
đình, để được gia tiên “prók” phù hộ được khỏe mạnh. Lễ thường làm
vào buổi xế chiều, thầy được mời tới, lễ vật bao gồm một chai
rượu, ba trứng gà. Thầy khấn các thần chú và tổ tiên phù hộ cho
đứa trẻ. Ngoài ra trong lễ này đều phải có bông điệp mà theo người
Chăm cho là lễ cúng thần người Việt. Sau khi khấn vái thần linh
xong lễ chấm dứt.
Lễ Plau Yang (lễ cúng
đầy tháng):
Lễ cúng đầy tháng cũng đơn giản như lễ
trình tổ tiên. Gia đình của đứa bé coi ngày nào tốt thì mời thầy
tới làm lễ. Lễ vật gồm gà, chuối, dừa, xôi. Lễ vật này được dâng
lên cho một vị thần khuất mặt “ôn próh” trong dòng họ, do đó khi
một đứa trẻ ra đời, gia đình phải tổ chức cúng để báo cho “próh”
biết sự có mặt của một thành viên mới, vì người Chăm quan niệm
vong hồn gia tiên luôn luôn ở gần mình, người sống luôn luôn tiếp
xúc với giới vô hình qua việc cúng tế, lễ vái. Trong gia đình nếu
có biến cố xảy ra, gia chủ khấn bái gia tiên rồi trình bày sự kiện
để xin phù hộ. Ngoài việc cúng, trong lễ này thân nhân và người
quen được mời đến dự và mang quà đến tặng đứa bé.
Lễ Đam cúh (Lễ hỏa
táng):
Trong suốt chiều dài của lịch sử xã
hội loài người chúng ta đã biết sự tồn tại của nhiều hình thức mai
táng mà mỗi vùng có những đặc điểm riêng vì nó thuộc phạm trù xã
hội, dân tộc và truyền thống địa phương. Ở Việt Nam các nhà dân
tộc cho rằng có 4 hình thức mai táng: thổ táng, thủy táng, hỏa
táng và thiên táng. Trong thiên táng lại có “điểu táng” tức đặt
người chết lên dàn cây để ngoài trời cho chim đến rỉa thịt.
Theo quan niêm của người Chăm Ninh
Thuận cái chết không hề làm đứt quãng các mối quan hệ giữa người
chết với họ hàng thân thuộc của người đó. Họ cho rằng ngoài cuộc
sống trần gian còn có các cuộc sống ở bên kia thế giới, do vậy
người chết, theo họ chỉ là sự chuyển đổi chỗ từ thế giới này sang
một thế giới khác, ở đó linh hồn người chết cũng tham gia vào
những công việc hàng ngày, có tác động ảnh hưởng tốt, giúp đỡ, che
chở những người họ hàng thân thuộc hoặc ngược lại, mang đến những
tai vạ cho những người này. Những quan niệm trên, ở mức độ đáng
kể, đã xác định được mối quan hệ tới cái chết của con người và
những hành động, cách thức chôn cất.
Để tiễn biệt người quá cố về thế giới
bên kia, người ta phải thực hiện rất nhiều lễ nghi khá phức tạp.
Hỏa táng của người Chăm Bàlamôn đóng
một vai trò rất quan trọng trong lễ nghi tôn giáo của họ. Người
Chăm Bàlamôn quan niệm rằng khi người ta chết phải làm lễ hỏa táng
để linh hồn người chết được siêu thoát lên thiên đàng. Ngược lại
nếu người chết không được thiêu thì linh hồn người chết sẽ không
siêu thoát, đưa đến việc linh hồn người quá cố sẽ bắt tất cả người
thân trong dòng tộc của họ, cho nên người Chăm Bàlamôn rất coi
trọng tục hỏa táng. Trong đạo Bàlamôn chia làm hai phái: phái
thiêu và phái chôn, nhưng người theo phái chôn rất ít, không đáng
kể.
Trong lễ hỏa táng có rất nhiều lễ nghi
phức tạp và có sự khác nhau giữa đám tang của các tầng lớp trong
xã hội do ảnh hưởng chế độ đẳng cấp của Ấn Độ. Người Chăm đã chia
xã hội thành nhiều tầng lớp khác nhau: tầng lớp tu sĩ, tầng lớp
người giàu và cuối cùng là người nghèo. Ngoài ra tục hoả táng còn
quy định nghiêm ngặt như đối với đứa trẻ dưới 15 tuổi chết thì chỉ
chôn không được thiêu. Đối với người lớn chết cũng chia ra làm 2
trường hợp: chết bình thường và chết không bình thường.
+ Loại chết bình thường: chết vì bệnh,
chết do già.
+ Loại chết không bình thường: chết tai nạn xe cộ, chết vì thú dữ,
chết trận, chết vì sông suối… và chết ngày đại kỵ (ngày hết trăng
mùng một).
Tục còn quy định khi người bệnh hấp
hối, sắp chết, tất cả những người trong gia đình và dòng họ phải
đến canh chừng ngày đêm, vì họ quan niệm rằng khi người chết tắt
thở phải có người thân bên cạnh chứng kiến mới được coi là “chết
tốt”, nếu người chết không có sự chứng kiến của người thân là điều
không lành, “chết xấu” (ha mưtai phào). Vì vậy họ chuẩn bị tất cả
lễ nghi liên quan đến tục hỏa táng rất cẩn thận và chu đáo. Nghi
lễ tang ma của người Chăm theo đạo Bàlamôn có hai giai đoạn: hoả
táng và nhập Kút.
- Những người thuộc tầng lớp tu sĩ và
quý tộc cử hành đám tang lớn, có thầy pasế làm lễ.
- Những người thuộc hạng bình dân,
nghèo khổ, lao động chân tay thì chỉ được cử hành đám tang nhỏ, và
chỉ có hai thầy làm lễ.
Trong đám thiêu cũng chia ra làm hai
loại thiêu tươi và thiêu khô.
- Thiêu tươi là hình thức hỏa táng
thông thường đối với một người chết bình thường, chết lành và
không vào dịp kiêng kỵ hay vào thứ năm hàng tuần.
- Thiêu khô: tiến hành đối với người
chết xấu, gặp thời gian kiêng kỵ, sát sinh của đạo Hồi giáo Bà Ni
(plàn clék ớ) hoặc (tháng ăn chay), hay chết khi gia đình không đủ
tiền bạc để làm hoả táng luôn… Người chết được chôn tạm, cho đến
khi có điều kiện, chọn thời điểm tốt sẽ bốc mộ lấy hài cốt để
thiêu.
Lễ Đam Dak (Đám chôn)
Những người chết được chôn trong các trường hợp sau:
- Trẻ em dưới 14 tuổi, không phân biệt
gia đình tu sĩ hay thứ dân, trai hay gái đều phải chôn. Người Chăm
quan niệm, trẻ khi chưa đến tuổi trưởng thành nếu chết thì phải
chôn để chúng trở về cát bụi.
- Những người được coi là dòng dõi
thấp hèn trong xã hội cũng phải chôn.
- Có những dòng họ khá giả, nhưng theo
tập tục của dòng họ cũng phải đem chôn. Người ta gọi những dòng họ
này là dòng chôn. Đó là dòng Yali - Yanguk ở Phước Lập, xã Phước
Nam, Ninh Phước, Ninh Thuận và dòng họ ở làng Thanh Hiếu, xã Phan
Hiệp, huyện Bắc Bình Thuận.
Lễ Thi Mư Tai (Lúc
tắt thở):
Sau khi người bệnh tắt thở, tang chủ
mời thầy pôsà, pasế về để lo việc hỏa táng. Theo quy định của
người Chăm đạo Bàlamôn, nếu người chết bình thường thì làm lễ rửa
tội tại nhà, chết không bình thường, bất đắc kỳ tử thì phải mang
ra đồng ruộng hoặc một cái lán nào đó. Người ta đặt người chết
theo hướng đầu quay về phía Bắc, thi hài được đắp một khăn trắng.
Thầy pasế bắt đầu mang một cái bình nước, trầu cau, tay cầm mộc
trượng (cây để vẽ bùa chú) đi đến bờ sông đọc vài câu bùa chú, làm
lễ xong ông thầy nhét trầu cau xuống dưới cát, sau đó múc nước
sông đem về để kề bên đầu thi hài và chuẩn bị cho lễ kế tiếp là lễ
cho nước.
Lễ Plày Ya (Kak dhong)
(Lễ cho nước):
Trong lễ cho nước có các hiện vật như
cây mác, 1 cây nến lớn, 1 cây nến nhỏ, một cái nhẫn “mưta” (nhẫn
có gắn hột màu đen), và một cái lư hương. Ông thầy pasế lấy ba
cọng tranh thắt hình ngũ trảo (loại chim săn, loại rồng cách
điệu). Thầy ngồi bên hướng Tây của thi hài, gắn cây nến và chiếc
nhẫn vào cây mác, rót nước trong ấm (bình) vào một cái vò gốm
(hũ), đốt trầm lên, hương tỏa khói, vỗ tay ba lần. Sau đó dùng một
bó bùa nhúng nước hương trầm rảy lên chăn phủ thi hài, tiếp tục
đọc kinh chú triệu hồn người chết và xoay đầu người chết về phía
Nam. Cuối cùng thi hài được đưa ra ngoài đồng ruộng hay một cái
lán cách nhà từ 100-200m. Cùng lúc đó, họ hàng làng xóm đã được
tin kéo đến làm giúp. Họ trồng cột, phạt tre, chẻ nứa, kết tranh,
để vội vã dựng lên khu đất trống bên cạnh làng, một căn nhà lợp
tranh đúng theo kiểu cổ truyền với bao nhiêu cột gỗ, xà, kèo đã
định, trực tiếp được các thầy cả chỉ dẫn, để sẵn sàng đưa thi hài
ra quàn ở đó, chờ ngày lên dàn hỏa.
Lễ Yang Mnay (Lễ
tắm rửa):
Người Chăm quan niệm trước khi đưa
người chết lên dàn hỏa, thi hài phải được tắm rửa sạch sẽ và kỹ
lưỡng. Tử thi sạch sẽ rồi, người ta mặc vào những bộ quần áo đắt
tiền, những bộ này thường kết ví ở cổ và gấu nên ngày thường không
ai mặc tới, mà những người già cả đều lo may sẵn chờ lúc lâm
chung. Lễ tiểu liệm xong đầu quay về hướng Nam.
Lễ Pó Kahnh ao (Lễ
khâm liệm):
Người chết được thân nhân mặc 1 cái
áo, 1 cái quần lót, 1 cái váy nếu là nữ và 1 cái sà rông đối với
đàn ông, 1 cái khăn trắng (đính tua 2 bên đầu). Tuy nhiên số lượng
mặc áo, quần nhiều hay ít tùy thuộc vào tuổi tác và dòng tộc.
- Người chết thuộc dòng dõi quý tộc,
giàu có, có chức sắc tôn giáo được liệm 9 cái chăn, 9 cái áo và 11
cái khăn bar cil (loại khăn truyền thống dân tộc có viền tua ở hai
đầu).
- Người chết thuộc loại trung nông và
người có tuổi được liệm 5 cái chăn (váy), 5 cái áo và 9 cái khăn
“bar cil” (năm nữ đều giống nhau).
- Người chết thuộc tầng lớp nghèo liệm
3 cái chăn, 3 cái áo và 5 cái khăn “mrai” (loại khăn thường không
có hoa văn). Đặc biệt trong nghi thức tắm rửa thi hài của họ hàng
vua chúa, hoàng tộc, lễ tắm rửa xong phải có nước dừa rửa chân
người chết thay cho nước lã. Nhà (rạp lợp bằng tranh) được trang
trí bên trong rất lộng lẫy, các nghệ nhân được mời đến để vẽ muôn
loài thú, chim phượng, vì họ quan niệm là các con thú sẽ đưa tiễn
linh hồn người chết.
- Trong lễ hoả táng của người Chăm
Bàlamôn đã ấn định đám tang là 4 ngày: 1 ngày cho ăn, 1 ngày nghỉ
(để chuẩn bị lễ nghi), 1 ngày chém cây (ngày lấy gỗ làm đòn) và
cuối cùng là ngày hoả táng.
Lễ Plày Băn (Lễ cho
ăn):
Người Chăm quan niệm rằng muốn cho
người chết qua thế giới bên kia khỏi khổ, thì phải làm thế nào để
lúc chết, người ấy không bị đói khát. Bởi thế nên công việc đầu
tiên của thầy Pôsà (thầy Cả), là phải lo cho người chết ăn uống,
vì ra đi no đủ thì qua bên kia được sung sướng, linh hồn người
chết không về quấy phá họ hàng. Lễ cho ăn được bắt đầu với 4 thầy
pasế được mời đến làm lễ, thầy cả và một thầy khác nữa sửa soạn
một khây gỗ tròn (tlao kai) có chân đựng lễ vật gồm mấy chén nẻ
rang, vài bát nước, 2 chén gạo trịnh trọng đem đến đầu người chết.
Trong 4 thầy pasế mỗi thầy đều có một nhiệm vụ riêng. Lúc hành lễ,
“pôsà” là người điều hành toàn bộ nghi lễ. Thầy Cả hô vài lời thần
chú, vừa vạch miệng thi hài, lấy lá cây xúc nẻ, gạo đổ vào 3 lần,
sau đó bỏ vào tai, mắt và mũi. Sau đó, lại lấy một cành lá nhỏ,
vẩy theo những giọt nước đựng trong bát. Tiếp đến thầy “pasế” khác
lấy những cọng tranh, buộc vào bông điệp đặt lên thây ma và tạo
hình hài bằng mảnh tranh do thầy kết lại tượng trưng cho lục phủ
ngũ tạng của người quá cố.
Sau những nghi lễ trên, ông pôsà chấp
vấn sự thành tâm cúng kiến của người thân để trình lên thây ma.
Xong cuộc lễ, các thầy pasế được ăn uống, nhạc kanhi được nổi lên.
Riêng thi hài có một mâm cơm gồm 1 trứng gà, 1 chén cơm và muối,
sau đó một thầy “pasế” đem mâm cơm ra trước rạp lấy một ít cơm ở
mỗi mâm đem ra ngã ba hoặc ngã tư đường yểm tà.
Thường thường đêm làm lễ cho hồn ma ăn
thì tất cả họ hàng nội, ngoại kéo nhau đến ngã ba hoặc ngã tư
đường, đào một cái lỗ vuông sâu một tấc. Trong lỗ cắm một cây đèn
sáp, một chum rượu, 1 miếng trầu cau để nhử hồn ma. Một ông thầy
cao tay ấn (chao lơng) được thỉnh tới để bắt hồn ma ở địa điểm
trên. Ông thầy làm phép bắt hồn ma đựng trên một cái mâm (bàn tổ)
trên mâm gồm 2 chai rượu, trầu cau và một cây đèn sáp, thầy quỳ
gối trước mâm lễ vật, mặt hướng về phía đông, miệng khấn thần
linh. Khấn xong, đứng dậy, tay phải cầm cây gậy dài bằng mây, bước
ra khỏi mâm lễ vài bước, rồi kêu to tên người quá cố, vừa kêu vừa
hú và tự trả lời lấy: “Dạ tôi là H… xin đến trình diện thầy”. Ông
thầy bảo: “À, nếu mày là H… xin hãy đến ngay lỗ ta để sẵn miếng
trầu và ly rượu, có cả thân nhân, họ hàng nội ngoại của mày đang
đợi ở đó”. Thầy vừa nói vừa đi đến chỗ lỗ đã đào, ngồi xuống và
cầm ly rượu bảo: “Này mày hãy uống đi, rượu ngon lắm đừng ngại gì
cả”. Khi ấy mọi người đều im lặng để tâm về hồn người chết và hồi
hộp chờ xem. Bỗng thầy la to: “Tao sẽ giết mày, vì mày nghe lời
xúi giục, không tưởng nhớ đến họ hàng con cháu, định làm chuyện
xấu xa”. Vừa nói thầy vừa lấp miệng hố lại rồi đặt một hòn đá lên
trên, thêm một lá bùa trấn tà.
Xong, thầy lấy một cái chày giã gạo
đặt ngang nơi miệng hố. Mọi người có tuổi trùng với tuổi người
chết và một số người khác ngồi quanh thầy, thầy vừa đi quanh mọi
người, miệng đọc bài trừ ma, đọc hết một đoạn thì hô to: “Phèn
phèn tằm đối” (lời hô xua đuổi tà ma). Tất cả đều hô theo, rồi lại
tiếp tục. Thầy đọc như vậy gần một tiếng đồng hồ mới dẫn đoàn
người tới nhà lễ để dự bữa chè, cháo gà. Lễ cho ăn “plày băn” chấm
dứt vào nửa đêm.
Lễ Tak Yâu (Lễ chém
cây):
Lễ nghi này do một ông pôsà và một ông
pasế đảm nhiệm, lễ vật gồm 3 chai rượu, trầu cau, 2 cái ly và một
cái hũ nước làm phép. Hai thầy “pasế” mỗi thầy cầm một cây chà
gạt, 1 cây mộc trượng bước ra đứng ở giữa rạp đọc vài câu thần
chú, rồi mỗi ông cầm một cây, đẽo tượng trưng 3 lần rồi giao cho
thợ làm đòn khiêng. Sau đó ông hăng (thợ làm nhà) cất một cái nhà
mồ gọi là minh khí (dùng để khiêng ngưới chết đem đi hỏa táng).
Mỗi góc nhà mồ có dán 4 con hăng (rồng Chăm được cách điệu) và
cuối cùng hai thầy đến ngã ba đường đào một cái lỗ, họa hình người
chết trong đó, đặt 3 đoạn tre rồi lắp lại.
Lễ Pa Plao (Lễ tiễn
đưa người chết):
Sau khi lễ chém cây chấm dứt, bà con
dân làng bỏ cả việc làm ăn để tới giúp, và cũng trong thời gian ấy
tang chủ giết dê, hoặc trâu để thết đãi. Người ta làm một chiếc
nhà táng bằng tre, lợp vải, có dán giấy cắt hình con hăng bay lên
trời, ngụ ý khi thiêu thì những con hăng ấy sẽ đưa hồn người chết
lên cõi thiên đường.
Đêm đến các thầy pasế phân công nhau,
thầy cả lo việc làm phép mặc đồ trang phục tăng lữ Bàlamôn, cổ
quàng chiếc khăn đỏ, tay cầm gậy trúc có gắn thỏi sáp. Mỗi thầy
pasế cầm một cái “chà gạt” (loại rựa dùng chặt cây).
Đêm đến nhạc kanhi (đàn nhị) được nổi
lên với giai điệu buồn bã như xót thương người quá cố do một ông
thầy pasế đảm nhiệm. Đặc biệt lễ tiễn đưa chỉ có một cây đàn kanhi
được sử dụng trong tang ma. Đàn kanhi được kéo cho đến 4-5 giờ
sáng thì chấm dứt để chuẩn bị cho ngày đưa tử thi lên giàn hỏa.
Lễ Cuh (Lễ hỏa
thiêu):
Các nhạc cụ được mang theo, đối với
nhà nghèo thường là 1 cái đàn kanhi. Nhà giàu người ta mang theo 2
cái đàn kanhi, 1 cái kèn “sarinai”, một bộ trống “ghinăng”, và 1
cái trống vỗ “paranưng”. Dân làng hôm ấy cũng bỏ cả công việc làm
ăn, để vừa giúp đỡ gia chủ mọi việc lặt vặt, vừa lễ vong linh
người đã khuất một lần cuối. Khi lễ, mọi thân nhân, dòng họ đàn
ông cũng như đàn bà dùng khăn đội đầu quấn ngang lưng, rồi quỳ
xuống trước linh cửu, chắp tay lên đầu rồi nhoài mình về phía
trước, cứ làm như thế 3 lần. Sau đó, tất cả được mời ăn uống một
lần nữa, ngay ở trước cửa nơi để quan tài, để rồi cùng tang gia
đưa linh cửu lên giàn hỏa.
Trước khi hành lễ, các thầy pasế đều
xuống sông hoặc đến giếng nước tắm sạch sẽ, chỉ có một ông thầy
pasế ở nhà lo sắp xếp thi hài. Sau khi tắm xong, 4 ông thầy mang
chà gạt đi ra chỗ đòn khiêng (khi ấy đã dán bùa chú) và cắm 4 ngọn
nến tượng trưng cho 4 vị thần ở hai vai và 2 đồi gối, đoạn khiêng
đòn vào để cạnh thi hài. Trong lúc thầy cả đọc thần chú và các
thầy khác tụng niệm theo, thì 4 thầy pasế đặt dưới lưỡi chà gạt
chụm vào nhau vào giữa đòn khiêng, ngụ ý muốn diệt trừ cho hết hồn
ma còn nằm ở đó.
Thầy posà dẫn thầy pasế đi vòng phía
đông đến một cái rạp điểm lại mọi vật phẩm lễ nghi, rồi vòng qua
hướng tây để vào rạp (cái nhà lợp bằng tranh). Nhạc “kanhi” nổi
lên, mỗi thầy đều có một mâm cơm đem ra xếp trước rạp làm phép rồi
lấy một ít cơm đem tống yểm bùa ở ngã ba đường. Trong lúc này dân
làng xúm vào, miệng hô những câu thần chú. Sau quan tài là người
thân thuộc, dân làng, mang theo gia tài của người quá cố. Tục lệ
Chăm là người chết cũng được hưởng gia tài, như người sống. Phần
chia của họ phải đem thiêu cùng lúc với thi hài. Ra khỏi làng, tới
một cái gò khá rộng, thầy cả đứng lại, ra lệnh cho những người
khiêng đổi đầu thi hài, ý muốn là cho hồn người chết không nhận
được lối về làng, để khỏi tìm ám những người mà hồn không ưa. Đến
điểm hỏa táng ở một khu đất kế đó, thầy cả miệng hô thần chú, tay
cầm mồi lửa cháy to, châm vào các mồi sáp đã đặt lúc trước, để
ngọn lửa bừng lên. Khi đám cháy đã khá lớn, các thầy mới rút gậy
ra. Những cục sáp vướng lại càng cháy mạnh. Lửa bén cháy hết áo,
quần, chăn màn, nồi, chén… rồi đến thi hài. Nửa giờ sau, trên đống
củi, một thầy pasế cùng với người con cả cầm một cây rựa cán dài,
một cây cuốc và một cái hộp đựng dầu, lấy rựa chặt đầu người chết
rời khỏi cổ rồi móc ra.
Cạnh đó người ta đào sẵn một cái lỗ
đặt vừa cái sọ nằm ngang, rồi chính người con cả cầm cuốc bổ sọ ra
làm hai, người ta dóc cho óc long ra hết, chỉ còn lại mảnh sọ. Lửa
vẫn cháy hết đám xương tàn. Người ta lấy cái sọ đập ra từng mảnh
lấy dao gọt lại cho tròn như đồng tiền, rồi đem mài cho nhẵn. Đàn
ông phải lấy 7 miếng, đàn bà thì lấy 9 miếng. Nhìn xương có cứng
rắn hay không, tròn nhẵn nhụi hay không, người ta có thể đoán được
số kiếp của người chết ở thế giới bên kia. Hiện nay người Chăm
Bàlamôn chỉ lấy 9 miếng xương trán cho cả nam lẫn nữ. Những mảnh
xương trán này được rửa sạch, lau khô và để vào những hộp nhỏ bằng
đồng, bạc hay vàng tùy theo gia đình giàu hay nghèo, sau đó đem về
nhà chôn chờ ngày nhập kút.
Sau lễ hỏa thiêu các thầy pasế được
gia chủ biếu một số hiện vật có giá trị lớn như 1 con trâu, nhẫn
vàng, lọ bằng bạc, quần áo quý giá…
Tiếp lễ hỏa thiêu là đến các đám tuần:
tuần 3 ngày, tuần 7 ngày cho người quá cố. Hai tuần này đều được
làm một lúc tại địa điểm hoả thiêu. Lễ vật làm tuần gồm có: gà
luộc, năm nắm cơm, canh và 5 cái bánh, một mâm có đặt hộp “klong”
đựng xương trán người chết, dưới có một lớp gạo, trên phủ 1 bộ y
phục.
Sau đám tuần 7 ngày, còn các đám tuần
tháng, tuần năm. Nghi thức giống như đám tuần 3, 7 ngày nhưng đám
tuần tháng, tuần năm thì làm tại nhà người quá cố. Lễ tuần của
người Chăm Bàlamôn giống như đám tuần của người Hồi giáo Bàni
nhưng cách làm và lễ nghi khác nhau.
Lễ nhập Kút:
Khi một người thường dân chết, tang lễ
cử hành ngay ngày hôm sau; nếu là người quý tộc hay quan lại đại
thần thì ba ngày sau, nếu là vua thì 7 ngày sau mới làm lễ tang.
Thi hài được bỏ vào quan tài và đặt vào một chiếc xe có phường kèn
đi theo và theo sau là người trong gia đình, dù là đàn ông hay đàn
bà đều cạo trọc đầu để tỏ “lòng hiếu” vừa đi vừa khóc. Khi đến gần
một con sông thì họ thôi khóc, đặt xác lên đống củi rồi đốt, sau
đó nhặt lấy tro than cho vào một cái lọ bằng đất, đem ném xuống
giữa sông. Mọi người về nhà, hết sức trầm ngâm, tránh không làm
một tiếng động, không nói một lời nào, có lẽ để linh hồn người
chết không tìm được đường về làm động dân làng. Nếu người chết
thuộc dòng quý tộc hay giữ một chức vụ quan trong vương quốc, tang
lễ phải cử hành ở cửa sông, tại đó tro than đựng trong lọ làm bằng
đồng được vứt xuống nước. Đối với vua thì dùng lọ bằng vàng và
được ném xuống biển.
Bảy ngày sau người ta đem hương trầm
đến khóc ở quanh đống tro củi của dàn thiêu, và cứ như thế làm bảy
lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau bảy ngày. Đến trăm ngày và đến
năm thứ ba người ta lại cúng người chết.
Những quả phụ không ba giờ tái giá và
để cho tóc mọc dài đến khi già. Tuy nhiên theo phong tục Ấn Độ thì
người vợ nên tự thiêu ở ngay trong dàn thiêu của người chồng, tục
đó đã được coi trọng ở người Chăm, ít ra là đối với những người có
phẩm cách tốt.
Ngày nay nghi lễ hỏa táng người Chăm
Bàlamôn không còn làm giống như ngày xưa nữa. Họ thiêu người chết,
lấy 9 xương trán (sọ) bỏ vào klong, tro thiêu thi hài đem bỏ xuống
ao, gom hộp klong của nhiều người lại làm lễ nhập kút.
Kút giống như nghĩa địa, kút là một
tượng đá thường lấy ở sông hoặc biển, xưa kia được các nghệ nhân
làm giống như “linh ga” biểu tượng của thần Civa. Theo quan niệm
của Bàlamôn Ấn Độ, khi người chết phải thiêu hủy xác, linh hồn sẽ
được lên thiên đàng, các xương cốt và tro đổ xuống ao hay sông
suối. Người Chăm theo đạo Bàlamôn Việt Nam quan niệm giống như
Bàlamôn Ấn Độ, tuy nhiên có sự khác nhau về kút. Sau khi hỏa táng,
thân nhân của người chết lưu lại các mảnh xương trán (nữ 9 mảnh,
nam 7 mảnh) để đưa vào kút, hầu tưởng nhớ người quá cố.
Đầu tiên họ tạm chôn klong ở những nơi
kín đáo thường là ở dưới những cây cổ thụ, về sau phòng ngừa nạn
trộm cắp họ đem chôn ở gần nhà vì hộp klong dùng để đựng xương
trán của người quá cố là vua chúa hay nhà giàu, thường làm bằng
vàng hay bằng bạc, người nghèo làm bằng đồng. Một tháng sau khi
hỏa táng họ làm lễ thay trầu cau trong hộp klong, xong họ chôn lại
và phải chờ có nhiều hộp klong (tức 5-10 người chết) mới tổ chức
làm lễ nhập kút. Thời gian nhập kút lâu hay mau tuỳ theo dòng họ
có người chết. Nhưng không phải tất cả những người chết đều được
nhập kút. Muốn vào kút người chết bắt buộc phải có một số điều
kiện sau đây:
- Chết bình thường như chết già, chết
bệnh có sự chứng kiến của thân nhân.
- Thể xác phải toàn vẹn không đui,
què, tàn tật.
- Không phải chết tai nạn, chết đuối,
chết trận.
- Không lai về dân tộc và tôn giáo.
Xương cốt của những người không hội đủ
điều kiện trên thì phải lập kút khác ở ngoài hàng rào của kút dòng
họ gồm những người chết trong sạch (Hội đủ điều kiện đã quy định
về lễ nhập kút).
Ở làng Chất Thường, xã Phước Hậu,
huyện Ninh Phước trong một kút phân chia ra làm hai khu vực: khu
vực chính và khu vực phụ.
- Khu vực chính (kút chính) được cất
trên một gò đất cao, có một cái nhà nhỏ lợp bằng tranh rất đơn sơ,
không có vách ngăn, rộng trung bình 8m, dài 12m.
- Khu vực phụ (kút phụ): những người
chết không hội đủ điều kiện trên người ta lập kút chôn ở ngoài
vòng khu vực chính. Trong vòng rào đặc biệt có một kút đứng riêng
lẻ đó là kút của những chàng rể mà dòng họ đã điêu tàn, không còn
ai nương tựa.
Các kút được xếp hàng ngang hướng về
phía Bắc. Kút ở giữa là tượng kút “pô thì” (vị sáng lập ra dòng
họ). Kút này chỉ tượng trưng không chôn xương cốt ở phía dưới. Kế
tiếp tượng pô thì, ở tay phải là tượng kút của nữ giới, phía bên
trái tượng kút pô thì là tượng kút đàn ông. Ngoài ra trong dòng họ
có chức sắc sẽ lập kút riêng gần bên tượng kút của đàn ông. Cấu
trúc của kút bao giờ cũng có 3-4 kút. Đôi khi lên đến 5-9 kút, đây
là loại kút có nhiều người làm thầy pasế, làm quan trong triều
đình trước kia.
Người Chăm thường lập kút vào tháng
1,2,3 và tháng 6 dương lịch (tức plàn tha, chòa, clâu và plàn
năm). Và làm vào các ngày thứ ba, thứ tư và thứ bảy, chủ nhật.
Thường tổ chức lễ nhập kút vào buổi chiều, sáng ngày hôm sau đưa
hộp klong, đến kút (nghĩa địa).
Đầu tiên họ làm lễ mở kút để trình báo
với “pô thì” xin phép cho nhập kút mới, giới nào, hạng người nào
thì đặt theo vị trí theo luật nhập kút đã quy định. Lễ này có sự
hiện diện của pôsà, một số thầy pasế, ông katha và bà bóng. Khi
làm lễ, người ta mặc áo cho kút, tùy theo địa vị của từng loại,
kút pô thì mặc y phục giống như hoàng hậu (công chúa Chăm), các
kút thầy pasế được mặc trang phục giống như giáo sĩ Bàlamôn… Sau
đó các thân quyến gia đình đều khấn vái linh hồn người chết phù hộ
và che chở cho họ. Việc cúng tế xong tất cả họ hàng và người thân
trở về nhà, chỉ còn một số người giúp việc cùng với thầy pasế ở
lại cho đến 12 giờ đêm mới bắt đầu làm lễ nhập kút.
Lễ nhập kút bắt đầu do thầy pasế đảm
nhận. Ông gom tất cả các hộp kong lại, lấy xương trán trong từng
hộp klong ra, xếp theo thứ tự nam riêng, nữ riêng và người có chức
sắc pasế riêng, sau đó cho vào một cái hộp bằng vỏ cây (người Chăm
gọi là “clàm” loại vỏ cây lấy ở biển). Tiếp đến thầy pasế dùng
cuốc đào sâu xuống ở phía dưới tượng kút khoảng 48-50cm, đặt hộp
đựng xương xuống theo thứ tự như đã quy định, lắp lại và cuối cùng
làm lễ kết thúc.
Lễ hỏa táng của người Chăm Bàlamôn
được coi là một nghĩa vụ của người sống đối với người chết. Họ
quan niệm người sống muốn tỏ lòng kính trọng người quá cố chỉ
thông qua lễ nghi hỏa táng.
Tục lệ hỏa táng người Chăm Bàlamôn
mang nét đặc trưng riêng, họ coi ngọn lửa hỏa thiêu chỉ làm cháy
đi một phần xác. Con người rời bỏ kiếp sống thực tại để chuyển
sang kiếp khác, ở dạng siêu hình (linh hồn) nên cái chết chỉ
thoảng qua còn linh hồn vẫn còn tồn tại mãi mãi mà sự chuyển hóa
đó nhờ vào ngọn lửa.
Lễ nghi đám cưới
của người Chăm Bàlamôn
Bước đầu của lễ thành hôn là
một giai đoạn khó khăn, giai đoạn này thường được gọi
bằng một danh từ có nghĩa rộng kín đáo, cần nhiều tài
xã giao, hùng biện, đó là danh từ “pa luak panoih”.
Theo chế độ mẫu hệ, người con gái thuộc nội tộc, có bổn
phận nội trợ, quản thủ tài sản, phụng dưỡng cha mẹ, chăm
sóc chồng con và thờ cúng tổ tiên v.v...
Một vài trường hợp cần ghi nhận:
Trường hợp cô nàng không thích anh
chàng, anh chàng lại mê cô nàng, sự quyết định do cha mẹ
đằng gái. Trường hợp trên có hai cách giải quyết thường
thấy:
+ Cha mẹ đằng gái cũng không đồng ý, hôn nhân chắc chắn
sẽ không thành.
+ Cha mẹ đằng gái đồng ý. Hôn nhân có thể thành vì chinh
phục con gái cũng thường không khó lắm. Vì cha mẹ đặt đâu
con ngồi đó là quan niệm xuyên suốt chiều dài lịch sử
của xã hội Champa từ xưa đến nay. Nếu cha mẹ không thuyết
phục được con cái, thường xảy ra trường hợp ép duyên con
gái với những câu thông thường:
Tình yêu sẽ đến sau hôn nhân.
“ Tao có yêu ba mày hồi nào đâu? Cha mẹ đặt đâu con ngồi
đó. Như vậy mới có hiếu. Áo mặc sao qua khỏi đầu. Bây
giờ trời cho làm ăn nên nổi, con cháu đùm đề, đời sống
vững vàng như ai, thấy không”. Sau đó cha mẹ tiến hành hôn
nhân theo ý mình.
-Trường hợp hai người xa lạ, không
hề yêu nhau. Hai bên cha mẹ tự kén chọn, lựa tuổi cùng
tốt, môn đăng hộ đối, xứng đôi, tiến hành công việc cậy
người làm mai mối dạm hỏi. Trong trường hợp này duyên nợ
hoàn toàn do cha mẹ đặt để. Phương thức này rất phổ biến
ở xã hội Chăm xưa, sau ngày giải phóng tuy còn nhưng giảm
nhiều.
- Trường hợp khác, con trai đã để
ý người con gái nhưng cha mẹ người con trai khước từ. Cha
mẹ bên đàng gái tán đồng. Hôn nhân có thể thành dưới
hình thức không có đám cưới linh đình, mà theo hình thức
tự ý, tức đi lén (người Chăm gọi là “nao klek”). Sau đó
ít lâu, chờ thời gian thuận tiện, cha mẹ đàng gái nhờ
người có uy tín dẫn hai vợ chồng qua bên đàng trai để thú
tội (người Chăm gọi là “nao thú”) với cha mẹ và họ hàng
thân tộc bên nhà trai. Đặc biệt người Chăm nếu có chuyện
phật ý, không vừa lòng hay để bụng. Tuy nhiên nếu có sự
xin lỗi “nao thú”, họ sẳn sàng tha thứ.
Trong xã hội Chăm cũng như người
Chăm nhất là bên nhà gái ít thích hình thức đám cưới
thiếu danh dự (bok mưta) này. Chỉ thường xảy ra với các
gia đình nghèo khổ hay những trường hợp cậu con trai nhà
giàu gặp cô gái nhà nghèo cha mẹ đàng trai không tán
thành cuộc hôn nhân do quan niệm môn đăng hộ đối (trường
hợp này ít xảy ra).
Trường hợp hai bên cha mẹ đều
không tán thành hôn nhân, có thể đòi trai gái sẽ thoát ly
gia đình để tự lập, nhưng thực ra trường hợp này rất
hiếm có trong người Chăm.
Lễ Paluak Panôih
(Dạm hỏi)
Đây là giai đoạn khó khăn nhất
của gia đình con gái, bởi nó luôn diễn ra trong bí mật âm
thầm, càng kín đáo càng tốt. Vì ngại rằng câu chuyện mai
mối không thành khi đổ bể ra, cả làng, cả vùng đều nghe
tin thì tai tiếng không mấy tốt cho gia đình bên nhà gái
và ngay thân phận cô gái nữa. Điều này được giải thích
bởi những lý do sau:
- Về phương diện gia đình: Người
Chăm quan niệm rằng khi đàng trai khước từ lời cầu hôn của
mai mối khác gì họ chê bai gia đình đàng gái. Vấn đề thể
diện và danh dự gia đình thật to tát biết bao. Xã hội
Chăm rất quí và tôn trọng danh dự. Khi bị xúc phạm là
nỗi nhục của họ. Có câu ca dao sau đây thường lưu truyền
trong dân gian đã chứng minh quan niệm danh dự gia đình rất
lớn và hệ trọng.
“Dăk lihik kubao yâu,
Hơn di mư lâu abok”
Tạm dịch là:
“Thà mất đôi trâu
Còn hơn xấu mặt”.
Câu tục ngữ trên có ý nghĩa thể diện và danh dự gia đình
trọng hơn vật chất. Nhiều trường hợp cũng do vấn đề hôn
nhân không thành đã sinh ra mâu thuẩn và thậm chí thù giữa
gia đình này với gia đình khác và có khi giữa họ này
với họ khác.
- Về phương diện
thân phận người con gái:
Việc dọn đường mai mối luôn luôn
đặt trong kế hoạch thầm kín và bí mật tối đa. Công việc
được thành đạt thì tốt cho con cái. E rằng câu chuyện lứa
đôi không thành thì không thể tránh được lời gièm pha của
láng giềng hàng xóm chê bai cô gái là “bị ế, bị chê”.
Ngay cả việc mai mối cho lần tiếp theo trong tương lai cũng
có nhiều trở ngại và ảnh hưởng rất lớn đến thân phận
của người con gái.
Cho nên con đường mai mối ngầm
thật là quan trọng. Vị sứ giả hôn nhân (ôn binhuk) mà gia
đình nhà gái muốn nhờ cậy phải được đắn đo chọn lựa
không phải ai cũng được.
Người mai mối (ôn binhuk) thường
là bô lão có uy tín trong xóm làng, có tài ăn nói, lợi
khẩu, khéo léo và kiên trì, có quen nhiều hay thân thuộc
với bên đàng trai càng có lợi. Đặc biệt, người mai mối
phải có gia đình, có vợ, con cái nhiều và cuộc sống gia
đình ông ta phải khá giả và hạnh phúc. Thời gian thăm dò
ý kiến cha mẹ đàng trai, lui tới kéo dài hàng tháng và
có thể từ năm này qua năm khác.
Hiện nay để phụ vào công cuộc
thăm dò ý kiến cha mẹ bên trai, cha mẹ bên gái đôi khi cũng
có dịp hỏi thăm ý định của chàng trai trong những lúc anh
ta lui tới bên nhà gái.
Ngày xưa, người lớn chỉ chú
trọng sự thoả thuận của cha mẹ. Nói thế không phải đàng
trai hoàn toàn thụ động. Cha mẹ và họ hàng bên trai có
rất nhiều quyền đó là quyền tối hậu, quyền quyết định
từ chối hay chấp nhận.
Hiện nay khi lựa chọn chú rể, cô
dâu nhằm vào các “tiêu chuẩn” sau:
- Vấn đề
giai cấp: Vấn đề giai cấp còn ảnh hưởng nặng
nề trong hôn nhân như các thời kỳ cổ xưa của họ. Hai chiều
hướng ngược nhau về quan niệm hôn nhân sau đây trong hiện
tại đang làm cho bậc cha mẹ không ít bối rối.
Đa số luôn luôn thích có vợ giàu
(giàu theo quan niệm của người Chăm) để được sang trọng,
sung sướng khỏi khổ thân, nở mày nở mặt với thiên hạ.
Người ta không cần học hành nên thân. Quan niệm này ở có
cả hai bên trai và gái.
Thiểu số quan niệm hôn nhân phải
bình đẳng, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn.
- Dư luận
của xã hội đối với gia đình: Tai tiếng không
tốt của gia đình có nhiều ảnh hưởng không tốt đối với
vấn đề hôn nhân. Xã hội người Chăm sống rất nể vì nhau,
nhưng khi trái ý họ để bụng lâu đời.
- Vấn đề lựa
chọn dòng họ:
+ Tránh những dòng lai căng: cha
hoặc mẹ khác giống (như khác dân tộc, khác tôn giáo).
+ Tránh họ Yang In mọi người cho
rằng họ này không tốt.
+ Tránh giai cấp tôi tớ...
- Đức tính
của ngưới con gái: Đức tính của người con gái
được coi trọng trong hôn nhân. Theo quan niệm xưa, người con
gái không căn cứ vào sắc đẹp bề ngoài, mà chú trọng cái
đẹp bên trong. Phương châm của người Chăm có câu:
“Siam binai hatai bau bruk,
Jhiak binai hatai yâu mưh”
Có nghĩa là:
“Nhan sắc đẹp, lòng thối tha
Nhan sắc xấu, lòng dạ như vàng”.
Mặt khác, tướng mạo cũng được
đề cập rất nhiều:
+ Tướng xác phu
+ Tướng phá năng
+ Tướng lang chạ
+ Tướng dễ hay khó nuôi con chẳng hạn...
Qua bao nhiêu thời gian, bậc cha mẹ
nhận thấy những khuôn khổ bó buộc khắt khe, hoặc quyết
đoán một cách đơn phương hay quá cá nhân chỉ đem lại những
thất bại đi kèm với sự đổ vỡ của gia đình. Đó là điều
hiển nhiên không thể tránh được.
Con gái cần có đôi chút nhan sắc
mới dễ kiếm chồng. Thứ đến tính nết nhu mì, nết na, ăn
nói lễ phép điềm đạm và biết lo công việc gia đình.
- Ảnh hưởng
bà con: Điều kiện gần gũi thân thuộc cũng đem
lại nhiều dễ dãi cho công việc mai mối.
- Về tuổi
tác: Cung mạng rất quan trọng trong việc cưới
hỏi. Xưa kia con trai con gái lớn lên 15 tuổi có quyền lập
gia đình. Thường người Chăm lập gia đình rất sớm. Người
Chăm theo đạo Hồi giáo Bà Ni, đến 15 tuổi phải làm lễ
nhập đạo, con trai làm lễ Patal hay “kho tan” lễ cắt da qui
đầu), con gái làm lễ ka rơh mới có thể lập gia đình.
Người Chăm Hồi Giáo IsIam thì làm
lễ nhập đạo khi mới sinh.
Giai đoạn dạm hỏi sẽ đi đến kết quả như sau:
- Bị khước từ vì những lý do:
+ Kỵ tuổi xung khắc
+ Nghèo nàn
+ Tuổi ly biệt
+ Tướng không con
+ Tìm cách từ chối khéo.
- Hai bên cha mẹ thuận tình. Dấu
hiệu có triển vọng tốt.
Cha mẹ đàng trai sẽ trả lời rất thông cảm, dễ dãi và
định ngày cho phép bên gái cử một số đại diện lại gia
đình bên trai để làm lễ hỏi, để đánh dấu sự thoả thuận
của bên trai.
Giai đoạn mai mối dạm hỏi luôn
luôn được tiến hành về đêm, trong âm thầm. Khi có kết quả
tốt mới xuất hiện ban ngày bằng lễ hỏi.
Lễ Nao Pôih (Lễ
hỏi)
Đây là giai đoạn hoạt động bán
công khai, tế nhị, nhưng sáng tỏ và có nhiều triển vọng.
Sau lễ dạm hỏi, nếu hai bên gia đình và hai dòng họ đồng
ý thì nhà gái mang trầu cau đến nhà trai xin ấn định
thời gian làm đám hỏi. Khi được nhà trai cho ngày chính
thức để tiến hành đám hỏi, nhà gái thường hỏi ý kiến
những người đứng đầu tôn giáo trong làng như ông pôsà là
người độc quyền trong việc xem lịch và phán ra ngày tốt
mới có thể làm đám hỏi được.
Theo cổ tục, tới ngày ấn định,
nhà gái làm bánh trái gồm các loại như bánh Sacada hay
thường gọi là pei saliya (theo tiếng Chăm (sa) nổi tiếng.
Còn cada là bánh làm bằng trứng gà đánh với nước dừa,
đậu phụng, đem chưng cách thuỷ, thường đựng trong một cái
tô lớn).
Bánh peinung là một trong hai loại
bánh không thể thiếu đựợc trong lễ hỏi và trong các lễ
cưới (peinung giống như bánh tét). Đặc biệt còn có peimang
(giống như cốm của người Việt) và một số trái cây như
chuối, dừa... 2 quả trứng gà và một chai rượu. Cùng đi
với ông bà mai chính mang bánh trái đựng trong một cái
”ciết” đến nhà đàng trai còn có hai ông bà mai phụ để hộ
tống ông bà mai chính. Gia đình nhà trai mời họ thân tộc
gần gũi với mình nhất để tiếp chuyện với đại diện nhà
gái. Nếu không có gì trục trặc xảy ra thì họ cùng nhau
ăn bánh, chuyện trò, bàn chuyện hôn nhân. Ngoài ra, đàng
trai có thể tổ chức tiệc mặn hoặc tiệc ngọt, tuỳ theo
hoàn cảnh mỗi gia đình mà đón tiếp nhà gái. Cũng nhân
dịp này nhà gái mời nhà trai sang nhà gái “làm khách”.
Đến ngày nhà trai cùng người trong thân tộc và ông bà mai
mối đến nhà gái được nhà gái tiếp đãi nồng hậu và ăn
uống linh đình. Nếu trường hợp nhà nghèo quá, có thể
làm bữa ăn đơn sơ hoặc làm tiệc ngọt. Sau đó hai bên cử
đại diện mang một ít bánh trái đựng trong cái “ciết”,
cùng nhau đến nhà Thầy Cả để xin làm đám cưới. Đặc biệt
chỉ có Thầy Cả mới phán cho ngày lành tháng tốt để tổ
chức thành hôn cho đôi trai gái.
Sự tiếp xúc đông đảo giữa hai họ
trước hết có mục đích để hai họ tìm hiểu nhau và sau
nữa chứng tỏ sự bằng lòng của họ hàng. Cũng trong lễ
này nhà trai phải cho nhà gái biết số người sẽ đi đưa rể
để nhà gái sửa soạn tiếp đón trong lễ cưới tới.
Ở phía Bà La Môn, sau đám hỏi
không có lễ đính hôn như người Chăm Hồi Giáo Bà Ni.
Lễ Băng padih hay
Băng mư nhum (Lễ cưới)
Lễ cưới thường được tiến hành
sau lễ hỏi ít ngày, nhưng không được quá 4 tháng, vì để
lâu nhiều kẻ dèm pha dẫn đến khó khăn cho hôn nhân, gây ảnh
hưởng không tốt cho việc cưới. Hôn nhân của những người
Chăm theo tôn giáo Bà La Môn và hồi giáo Bà Ni Trung Bộ,
đều lấy ngày tháng thống nhất để tiến hành đám cưới,
thường là vào buổi chiều thứ tư ngày chẳn, trong hạ tuần
trăng từ 16 đến cuối tháng theo lịch Chăm của các tháng
ba, sáu, tám, mười và tháng 11. Cách chọn tháng cưới này
có lẽ ảnh hưởng của thuyết âm dương. Ở xã hội Chăm hạ
tuần trăng và buổi chiều đều thuộc về âm.
Vì theo chế độ mẫu hệ việc tổ
chức đám cưới do nhà gái tổ chức. Tới ngày cưới, nhà
trai làm tiệc rượu cầu trời và tổ tiên, ông bà đã khuất
chứng giám cho việc hôn nhân của con cái mình. Đầu tiên
tất cả những người thân trong dòng họ kể cả bạn bè thân
thiết được mời của phía đàn trai đến tập trung đông đủ.
Những người đến dự đều không quên mang tiền gọi là “chền
chúk”, tiền “gậup gàn”, (tức tiền họ hàng) để làm của
hồi môn cho chú rể. Trước khi đưa chú rể qua nhà gái, bên
nhà trai làm lễ rửa mình cho chú rể do một ông thầy pasế
đảm nhiệm. Lễ được tiến hành ở ngoài sân. Thầy làm phép
cho chú rể, cầm một hũ nước và một cây trượng (làm bằng
cây mây) dài 2-3 mét, đọc lời bùa chú, nội dung báo cáo
cho các “yang”, thần, thiên địa biết. Đọc xong lời bùa
chú, ông thầy đưa hũ nước làm phép cho chú rể súc miệng 3
lần rồi đổ xuống sân. Sau đó chú rể bước vào nhà tục
(thang yơ) làm lễ cúng xin, khấn vái tổ tiên để mặc đồ
truyền thống như ao (áo) “khanh báy” (sà rông), xếu (khăn
cột đầu). Lễ cúng sau này có thêm cha mẹ chú rể và ông
bà mai (cùng chú rể và thầy pasế). Lễ cúng gồm một ít
trái cây như chuối, bánh, trầu cau, rượu. Bộ áo truyền
thống được ông mai mặc cho chú rể. Ông thầy pasế rót
rượu, khấn vái thần linh và tổ tiên ông bà của chú rể.
Nhà gái phải cử ông mai đến nhà
trai để đón rước họ hàng trai, ông mai nhà gái thường mang
theo bình nước, trầu cau. Đi đầu và là người dẫn đường
cho họ hàng chú rể là ông mai, kế đến chú rể, đàn ông,
thanh niên, rồi sau cùng đến đàn bà và thanh nữ.
Hiện nay do thời đại phát triển,
nhiều người đi giày nên tục lệ rửa tay chân không bắt
buộc.
Đoàn đưa rể đến gần nhà gái mà
chưa đến giờ tốt thì phải dừng nghỉ từ 10 - 15 phút tại
một điểm đã được hẹn trước lúc đó nhà gái cử một đoàn
do người đàn ông cao tuổi trong họ cô dâu mang chiếu, trầu
cau ra thết đãi họ hàng chờ giờ tốt. Tất cả cùng nhau
trò chuyện, uống nước. Khi đúng giờ lành đã định, một
số người trong họ nhà gái quay trở vào nhà để thông báo
biết là đoàn nhà trai đã tới, để tiếp đón chính thức.
Đúng “giờ lành” đàng trai vào nhà theo thứ tự. Để tỏ
lòng kính trọng đàn trai, nhà gái để một lu nước lớn,
có một người đàn bà cầm gáo nước dội cho từng người
của phía đàn trai rửa chân tay và mời họ đi theo hàng
chiếu bước vào nhà. Họ được ông mai và họ hàng nhà gái
tiếp đón nồng hậu, cởi mở, đặc biệt phải hết sức tôn
trọng, không để mất lòng nhà trai. Trong nhà người ta trãi
3 chiếc chiếu dài thành 3 hàng dọc, hàng chiếu giữa dành
cho ông mai, chú rể và người già cả, hàng chiếu bên phải
dành cho họ đàng trai, hàng chiếu bên trái dành cho họ
đàng gái. Hiện nay đám cưới ít khi ngồi dưới chiếu mà
ngồi bàn ghế.
Đến giờ qui định, ông mai đàng trai
đứng dậy dẫn chú rể tiến về hướng phòng the của cô dâu.
Phòng của cô dâu là một gian ở phía trong của căn nhà,
kiến trúc theo lối cổ truyền gọi là “thang yơ” (nhà tục).
Ông mai của cô dâu từ phòng the đi ra đón nhận chàng rể do
ông mai nhà trai dẫn vào. Trong phòng the được kê một tấm
phản hoặc trải chiếu dưới nền đã được yểm bùa chú, cô
dâu đã được trang điểm ngồi sẵn ở đó, chú rể ngồi đối
diện với cô dâu. Ông mai nhà trai đứng ở phía Đông, ông mai
nhà gái đứng ở phía Tây, cùng cầm chiếc chiếu đập xuống
ba lần, khấn vái các thần linh rồi trải xuống tấm phản
của cặp tân hôn, đầu chiếu quay về hướng Bắc, đuôi quay về
hướng Nam, kế đó hai ông mai cầm hai chiếc gối để sẵn ở
đó đẩy sát vào nhau và ra hiệu cho cô dâu chú rể ngồi
vào cạnh ông mai của mình..
Trong lúc đó người nhà mang vào
một mâm lễ tơ hồng, có trầu cau, bánh trái và rượu để
giữa hai người. Thầy cả được mời đến để làm lễ, ông
thắp nến để làm lễ bổn mạng cho hai người, rồi rót rượu
khấn vái các vị thần yamư, pô i nư gar, pô pan cùng ông bà
tổ tiên chứng giám cho hôn lễ này và trịnh trọng lấy một
lá trầu to, đẹp từ trong hộp đựng trầu cau, xẻ đôi đưa cho
cô dâu một nữa, cô dâu lại xẻ đôi miếng trầu ra làm hai
phần đưa cho chú rể một phần. Cô dâu lấy ít vôi bôi vào
trầu cau của chú rể và của mình rồi hai người cùng ăn
những miếng trầu cay nồng ấy trong niềm hạnh phúc.
Ông mai rót rượu khấn vái một
hồi rồi đưa ly rượu cho chú rể và cô dâu cùng uống, đoạn
lấy nhẫn để cho hai người đeo nhẫn cho nhau, nhẫn cưới này
có chạm vẩy cá ở giữa mặt nhẩn có hình con mắt mà
người Chăm gọi là “kara mưta”. Sau đó chú rể cởi áo ngoài
đưa cho cô dâu như trao thân gởi phận cho cô gái từ đây. Sau
khi tiến hành lễ nghi xong, cô dâu phải ở lại trong phòng,
chú rể chính thức trở thành thành viên của gia đình nhà
gái và ra ngoài tiếp đãi đàng trai, mời ông mai và mọi
người chung vui tiệc cưới.
Về thức ăn trong lễ cưới, cũng
tuỳ theo điều kiện mà tiếp đãi họ hàng và bạn bè. Các
món ăn thường là gà, vịt, cá, món súp, bún. Đặc biệt
là món cá là không thể thiếu được. Về đồ uống chỉ có
rượu, nay có cả bia và đám cưới ở người Chăm hiện nay ít
dùng cơm mà dùng bánh mì, bún để ăn với món cà ri, thịt
gà xào với rau v.v... Trong lúc dự tiệc, họ hàng thân
thuộc đều chúc mừng cô dâu chú rể “trăm năm hạnh phúc”.
Từ đó chú rể được chính thức coi là người bên nhà gái,
nên phải lo đãi họ hàng và lo dọn dẹp thay cho cô dâu. Theo
tục lệ, cô dâu lúc này còn cấm phòng, không được đi ra
ngoài. Sau lễ này cô dâu mới xuất hiện, họ đến chào ông
mai nhà trai cùng với họ hàng thân tộc đàng trai, cùng vui
tiệc cưới. Chú rể phải quì dâng rượu mời hai ông mai và
cầm khay rượu đi mời tất cả mọi người.
Đám cưới người Chăm Bà La Môn
ngày nay có khá hơn so với tục cưới cổ ngày xưa là không
tổ chức kéo dài 2 đến 3 ngày để tiếp đãi họ hàng, làng
xóm, mà đơn giản hơn, chỉ tổ chức trong một ngày, thường
buổi sáng là nhà trai tổ chức, chiều đưa chú rể qua nhà
gái tổ chức lễ cưới, sau đó thết đãi họ hàng và bạn
bè đàng trai. Ngoài ra nếu có điều kiện họ còn tổ chức
vui chơi văn nghệ và cũng là dịp các chàng trai, các cô
thiếu nữ hai họ tiếp xúc với nhau tìm hiểu nhau. Qua dịp
cưới này cũng có cặp nên vợ nên chồng.
Đám cưới theo tập tục xưa đúng ra
cô dâu không được ra tiếp đãi khách và họ hàng mà chỉ
một mình chú rể lo, ngày nay tục lệ đó không còn nữa.
Sau khi làm lễ xong trong phòng cô dâu, cả hai người đều ra
ngoài cho ông mai giới thiệu với bà con hai họ. Sau đó hai
ông mai cùng với cha mẹ, đại diện cho họ hàng nhắn nhủ
chúc tụng đôi vợ chồng mới. Họ khuyên hai vợ chồng trẻ
phải sống hoà thuận với nhau, về cách cư xử, bổn phận
người vợ, người chồng v.v... Cuối cùng nhà trai cũng trao
quyền quản lý chú rể cho nhà gái.
Lễ cưới người Chăm Bà La Môn, dù
trong một tôn giáo, nhưng giữa các khu vực Phan Rí và Phan
Rang có những nét khác nhau.
Một số “paley” (làng) ở Phan Rí
thuộc tỉnh Bình Thuận, trong lễ cưới cấm sát sinh và cấm
không được ăn thịt, mà chỉ được ăn cá, cá duy nhất là cá
“kan pàu” (cá đuối). Chúc tụng cô dâu, chú rể, tặng quà
hoặc tiền đều phải vào phòng the, sau đó được cô dâu chú
rể mời rượu.
Ngoài ra ở vùng Phan Rí (ở một
vài làng ở Tuy Phong thuộc tỉnh Bình Thuận) có tục lệ
người con trai đi hỏi vợ. Theo một số chức sắc tôn giáo
và nhà trí thức thì: Nguyên nhân của sự khác nhau đó
được giải thích trong truyện kể dân gian là, xưa kia ở
vùng Phan Rí, con ông huyện “phủ” có thai với con ông cùng
đinh mà người Chăm theo chế độ mẫu hệ, người con gái đi
hỏi, đi cưới con trai về làm chồng. Nhưng địa vị xã hội
không cho phép đi lại xuống tầng lớp dưới (ôn clum - hạng
người cùng đinh) để hỏi chồng cho con mình nên để con trai
nhà cùng đinh đi hỏi vợ có vẻ ổn hơn. Sau này do quan
niệm bảo thủ của cộng đồng người Chăm nên điều đó biến
thành tục lệ đã thâm nhập vào mỗi tín đồ đạo Bà La Môn
ở một số xóm ở Phan Rí, và tồn tại đến ngày nay. Tuy
nhiên mặc dù trai đi hỏi vợ nhưng đám cưới vẫn tiến hành
nhà gái và chàng rể vẫn cư trú bên nhà vợ như các
trường hợp hôn nhân trong xã hội Chăm.
Lễ Talơh akhar ao
(Lễ xã y hay lễ trình diện tông môn)
Sau lễ cưới được 3 ngày, cha mẹ
cô dâu sửa soạn lễ gồm bánh sacad (là truyền thống của
người Chăm làm bằng trứng với nước dừa), pinung (bánh
tét), chuối, và một số ly rượu được đựng trong một cái
ciết, trầu cau rồi cô dâu và cha mẹ cùng với bà con thân
tộc gần gũi nhất như cậu, bác v.v... đến nhà trai làm
lễ. Thường lễ này tổ chức vào buổi sáng. Mục đích của
lễ là từ biệt cha mẹ đàng trai.
Khi cô dâu, cha mẹ cùng với họ
hàng thân thuộc bên gái đến nhà đàng trai, cha mẹ và vài
người thân trong họ hàng nhà trai ra đón tiếp rất trịnh
trọng và ân cần. Đây là giai đoạn kết thúc lễ cưới cũng
là dịp để hai bên có dịp trao đổi và gửi gắm chú rể.
Sự ra đi của chú rể là một vinh dự và cũng là sự thiệt
thòi của gia đình đàng trai vì mất đi một người lao động.
Cho nên để bù lại, nhà gái trân trọng đối với đàng trai
và làm món ăn ngon là món truyền thống để dâng lên cha mẹ
và những người thân tộc đàng trai.
Qua vài câu chuyện ví von để cô
dâu và chú rể thông cảm cho nhau và cùng nhau xây dựng
hạnh phúc gia đình, cha mẹ chú rể cùng gửi gắm con mình
ở cha mẹ cô dâu. Sau những lời dặn dò của cha mẹ đàng
trai, hai bên đàng trai và đàng gái uống nước. Trong lễ
này, đàng trai thường tổ chức một bữa cơm thân thiện thết
đãi đàng gái. Sau khi cơm nước xong cha mẹ và những người
thân tộc trong gia đình đàng trai trao cho chú rể và cô dâu
những tặng phẩm như vải lụa, đồ trang sức bằng vàng,
tiền bạc... Đặc biệt đối với những gia đình đàng trai
khá giả hoặc giàu có thì cho chàng trai một vài con trâu
hay con bò để mang về làm của hồi môn.
Việc có của hồi môn hay không
cũng có vai trò quan trọng đối với chú rể, giúp cho chú
rể có điều kiện xây dựng hạnh phúc gia đình.
Theo phong tục Chăm, sau khi đã làm
xong các nghi lễ cưới hỏi, đôi vợ chồng trẻ được hoàn
toàn hợp pháp hoá đối với xã hội Chăm. Sau này chấp
hành luật hôn nhân và gia đình và hình thức giá thú của
nhà nước nên mới thêm một bước thủ tục là đăng ký kết
hôn và khai báo với chính quyền địa phương để làm giá
thú nhằm hợp thức hoá cuộc sống vợ chồng về mặt pháp
luật.
Người Chăm Bà La Môn thết đãi họ
hàng đàng trai khác với người Chăm hồi giáo là qui định
số lượng người, cặp nam, cặp nữ và bạn bè. Đối với
người Chăm Hồi giáo Bà Ni việc thết đãi không qui định số
lượng, cặp nam nữ. Tất cả họ hàng đàng trai đều được
quyền dự lễ cưới không phân biệt lớn nhỏ.
Theo tập tục, khi lễ cưới kết
thúc họ hàng ra về, chú rể mới được vào phòng cô dâu,
mỗi người nằm một bên phản; mâm lễ tơ hồng với những
ngọn sáp bổn mạng vẫn để ở giữa, không xê dịch đi. Họ
chỉ được nói chuyện chứ không được gần nhau vì chiếu đã
được yểm bùa, làm trái sẽ mang tội lớn.
(Trích trong "Gia đình và hôn nhân
của người Chăm ở Việt Nam" - Tác giả: Bá Trung Phụ) |
|