|
 |
|
Xưởng dệt thổ cẩm |
Vài nét về lịch sử
Cho đến bây giờ, các nhà nghiên
cứu vẫn chưa xác định được nghề dệt thổ cẩm Chăm hình
thành và phát triển như thế nào trong quá trình lịch sử.
Truyền thuyết về Bà Chúa Xứ kể rằng: Po Inư Nưgar từ
Trung Quốc trở về, đã đặt kinh đô Champa ở Nha Trang và
dạy người Chăm - lúc đó còn trong thời kỳ mông muội - cày
cấy, dệt vải, xây tháp, tổ chức hành chánh...
Theo Lê Quí Đôn ( Vân Đài Loại Ngữ ) : “ Ở Lâm Ấp có trồng
cây cát bối, khi chín hoa cây giống như lông ngỗ, kéo sợi
làm chỉ dệt khăn không khác gì loại gai”. Còn theo G.
Maspero thì dưới thời các vương triều Champa, người Chăm đã
biết trồng dâu, nuôi tằm và dệt lụa.
Trông suốt chiều dài lịch sử từ thế kỷ thứ II đến thế
kỷ thứ XVIII, người ta tìm thấy các nét hoa văn được chạm
trổ thật tinh vi trên các tượng đá ( Shi va, Apsara...),
vương mão ( Po Mưh Taha - đầu thế kỷ thứ XVII ) hiện vẫn
còn được lưu giữ ở một làng Raglai tỉnh Ninh Thuận.
Từ các cứ liệu này, chúng ta khẳng định rằng nghề dệt
thổ cẩm Chăm đã hình thành từ rất sớm và đã phát triển
đến mức tinh xảo.
Nghề dệt thổ cẩm và
hoa văn thổ cẩm Chăm
Nghề dệt thổ cẩm
Nguyên liệu:
Ngày nay, tất cả các nguồn nguyên liệu từ sợi cho đến
sản phẩm nhuộm đều được mua trên thị trường. Nhưng trước
kia, khoảng thập niên 50 trở về trước, người Chăm thường
trồng bông để lấy sợi. Kỷ thuật lấy sợi và mắc thành
cuộn sợi dọc ( nuh papan ) theo các qui trình sau (thể hiện
qua vật liệu):
-
Giá tách hạt: Vak ywơk kapah
- Cung bật bông: Ganuk pataik
- Xa quấn tơ: Vak mưk kabwak
- Xa bắt chỉ: Ssia livei
- Xa đánh ống: Ssia trauw
- Giá mắc sợi: Haniel linguh
- Khung xỏ go: Danauk pachakauw
Đây là cả một qui trình khá phức tạp và công phu. Trước
tiên người thợ tách hạt bông trên giá tách hạt, rồi lấy
cây cung bắn cho các thớ bông bung ra. Sau khi bông được trải
thành thớ mỏng, họ dùng thanh tre có một đầu nhọn cuộn
chúng lại thành từng con bông để rút và se sợi. Tiếp đến
là những công đoạn như: Quay thành cuộn, ngâm đập, nhuộm,
hồ, chải và đánh óng. Khâu sau cùng mắc thành cuộn sợi
dọc và bắt go để lên hoa văn chuẩn bị đưa vào khung dệt.
Phẩm nhuộm:
Nguyên liệu và kỷ thuật nhuộm ngày xưa hầu như đã thất
truyền và không còn sử dụng nữa. Người ta chỉ nhớ mang
máng truyền khẩu là:
-
Màu đen được nhuộm bằng lá chùm bầu, sau đó ngâm với bùn
non từ ba đến bảy ngày đêm liên tục.
- Màu nâu hoặc màu đỏ sậm lấy từ các loại vỏ cây.
- Màu xanh từ cây chàm...
Kỹ thuật dệt:
Có 2 loại khung: Loại dệt dạng tấm và loại dệt dạng
dải.
-
Loại dệt dạng tấm: Danưng mưnhim ban khan. Là loại dệt ra
các sản phẩm như: Khăn bàn, xà rông, khăn quàng, mền,
drap... với kích thước tối đa là 95cm - 240cm.
-
Loại dệt dạng dải: Danưng mưnhim jih dalah. Dệt ra các sản
phẩm như: Jih, dalah, dây lưng... với kích thước 2cm, 24cm -
100cm.
Hai loại khung này gồm nhiều bộ phận rời được lắp ghép
lại với nhau. Tuy nhiên tuỳ theo đặc điểm cấu tạo mỗi
loại khung mà kỷ thuật dệt có khác nhau. Ở khung dệt
dải, thợ dệt ngồi trên ghế, sử dụng đôi chân đạp con ngựa
(athaih) tách mặt sợi nền, tay phải kéo go bắt bông và
chặt sợi (nếu sản phẩm phải lên nhiều go (8 - 13 go), cần
thêm một thợ phụ để giúp kéo go), tay trái luồn thoi chỉ
qua lại. Trong khi ở khung dệt tấm, người thợ ngồi bẹp
xuống nền nhà, vận dụng cả thân người với sợi dây giăng
thật căng ở đằng sau lưng để giữ mặt nuh papan căng hay
chùng tuỳ trường hợp; sau đó người thợ cầm, ấn, xách
các dụng cụ phụ như bbar bingu, bbar chakauw... để tách mặt
sợi, làm thao tác bắt bông, luồn dao dệt, đưa thoi và dập
sợi.
Hoa văn thổ cẩm Chăm
Trên nền vải thường được ưa thích là màu đen hay đỏ, các
đồ án trang trí phần lớn theo kiểu hoa văn hình học. Có
loại hoa văn được bố trí trên toàn mặt vải như: Bingu tamun
(bông mặt võng), Cham birow (Chàm mới), tuk hop, bingu jal...
Ngoài các dạng hoa văn hình học, người ta còn nhận ra các
loại hoa văn động vật được cách điệu rất linh hoạt như:
Rồng (garai,makara), phụng (arut, garuda), chim trão (hơng),
công (amrak)...
Hoa văn thổ cẩm Chăm rất phong phú và đa dạng. Ngoài ra
các hoa văn đã thất truyền (chỉ được biết qua hình ảnh
được chụp từ đầu thế kỷ, nay còn lưu giữ bảo tàng bên
Pháp), nghệ nhân Thuận Thị Trụ đã sưu tầm được hơn 30 hoa
văn nền. Từ đó chị đã cách điệu ra khoảng 50 hoa văn
khác.
Trong sinh hoạt xã hội Chăm, người ta có thể phân biệt giai
cấp hoặc mức độ sang hèn chỉ qua hoa văn trên y phục của
đối tượng được quan sát. Như người đàn bà Chăm thuộc tầng
lớp trên thì mặc chăn biywon haraik...
Dệt thổ cẩm Chăm ở Mỹ Nghiệp
Một trong những tiêu chuẩn đạo đức được Muk Thruh Palei (Bà
Tổ Quê Hương) đặt ra cho phụ nữ Chăm là phải thông thạo
nghề dệt. Nên có thể nói nghề dệt thổ cẩm được truyền
bá đều khắp trong các plây Chăm: Từ Hữu Đức, Chung Mỹ, Văn
Lâm... ở Ninh Thuận đến các làng xa xôi nhất ở Bình
Thuận. Nhưng Mỹ Nghiệp là trung tâm dệt sản xuất đa dạng
và nhiều mặt hàng nên được biết đến nhiều hơn cả.
Làng Mỹ Nghiệp (tên Chăm là Chakleng) thuộc huyện Ninh
Phước, tỉnh Ninh Thuận, nằm về phía nam thị xã Phan Rang
gần 9 cây số. Đây là đất văn vật của vương quốc Champa cổ
mà tên còn được thấy trên bi kí. Tương truyền rằng ông bà
nuôi của Po Klaung Garai (thế kỷ XII) đã sinh ra ở đất này,
nên khu vực xung quanh làng tập trung nhiều di tích lịch sử
giá trị.
Mỹ Nghiệp có 2.900 khẩu với khoảng 500 thợ dệt lành
nghề. Trước năm 1975, chị em tận dụng giờ nông nhân để sản
xuất. Hàng dệt chỉ gồm các sản phẩm thô, chủ yếu được
mang lên bán đồng bào Tây Nguyên như: Êđê, Churu,Kơho,
Raglai... một số ít dùng phục vụ cho phong tục tập quán
địa phương.
Sau 1975, nghề dệt Mỹ Nghiệp hình như ngưng hoạt động bởi
thiếu nguyên liệu. Từ 1985 nó mới được hồi phục trở lại
do nhu cầu của phong tục. Nhưng nhìn chung, việc tổ chức
sản xuất còn mang tính gia đình, tự sản tự cấp. Chỉ từ
khi cơ sở dệt thổ cẩm Chăm Inrahani ra đời, hàng dệt thổ
cẩm của dân tộc này mới phát triển và được nhiều người
biết đến.
Cơ sở dệt thổ cẩm
Chăm Inrahani
Đây là cơ sở đầu tiên được thành lập ở Mỹ Nghiệp, tỉnh
Ninh Thuận. Ra đời năm 1992 với 10 thợ dệt, cơ sở đã kết
hợp với các công ty may mặc thành phố Hồ Chí Minh tìm
đầu ra cho hàng thổ cẩm Chăm. Không dừng lại ở sản phẩm
thô, cơ sở đã chế tác ra nhiều mẫu mã như túi xách, ví,
ba lô... các loại hợp với thị hiếu khách hàng đủ tầng
lớp, mọi lứa tuổi. Từ đó, cơ sở liên tục phát triển. Sau
4 năm hoạt động, cơ sở đã đạt được một số thành tựu như
sau:
*
Xây dựng được xưởng dệt ở Mỹ Nghiệp và một tổ may ở
thành phố Hồ Chí Minh.
*
Có ba cửa hàng bán lẻ, 5 điểm nhận hàng bán sỉ và 8
điểm nhận bán lẻ ở các thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt,
Nha Trang, Hà Nội...
*
Giải quyết việc làm cho 180 thợ dệt (với tiền lương từ
10.000 – 15.000 đồng/ngày), 20 thợ may, 10 nhân viên quản lý
và bán hàng. Có thời điểm, cơ sở huy động đến 250 lao
động dệt gia công.
*
Sản phẩm cơ sở đạt 4 huy chương vàng Hội chợ cấp Quốc
gia, và chủ cơ sở được cấp huy hiệu Bàn tay vàng của
Trung ương Hội đồng liên minh Hợp tác xã Việt Nam.
Các cơ sở khác:
Ngoài Inrahani, các tổ chức dệt có tính chất gia đình như
của bà Phú Thị Mở, Thọ Khổ, Quảng Phố... hoặc của hợp
tác xã Mai Anh vừa mới ra đời năm 1998, mặc dù tầm hoạt
động nhỏ hơn nhưng cũng đã gặt hái một số thành tựu
đáng kể, góp phần đưa sản phẩm thổ cẩm Chăm đến khắp
các tỉnh thành trong cả nước, và một phần ra nước ngoài.
|