|
Lễ dựng chòi cày
(Padang paday tuan):
|
 |
|
Lễ hội cúng đập
nước |
Lễ dựng chòi cày là lễ mở đầu công
việc đồng áng hàng năm của người Chăm. Trước khi khởi đầu công
việc cày gieo người Chăm thường dựng lên một cái chòi nhỏ ở gần
ruộng của mình để trú ngụ tránh mưa nắng và để dụng cụ lao động
trong thời gian cày cấy. Lễ này được thực hiện trên thửa ruộng
từng gia đình.
Thầy cúng lễ là ông “Cai mương” (Hamu
ia) hoặc “Ong Từ”( Camưney). Ngày cúng lễ là ngày thứ tư hay thứ
bảy trong tuần. Lễ vật gồm có 1 cặp gà, 5 mâm cơm, rượu, trứng,
trầu cau…
Các vị thần linh được cầu cúng trong lễ này là các vị thần như
thần trời, thần cha (Po yang amư), thần mẹ, thần sông (Po patau
ia), thần thủy lợi như Po Kluang Garai, Po Rame và các vị khẩn
hoang tiền hiền… Mục đích lễ này, họ cầu mong cho mưa thuận gió
hòa, công việc cày cấy được suông sẻ, mùa màng tốt tươi…
Lễ cúng ruộng lúc lúa đẻ nhánh (Iew po Bhùm):
Sau khi ruộng lúa
cày gieo xong khoảng tháng sau thì họ tiếp tục làm lễ cúng cho cây
lúa đẻ nhánh. Lễ vật cúng cho lễ này tương tự như lễ cúng dựng
chòi cày. Những thần linh cầu cúng của lễ này chủ yếu là thần mẹ
xứ sở Po Inư Nưgar.
Lễ cúng lúa làm đòng (Padai dôk tian):
Lễ này người Chăm cúng lúc
lúa đang dậy thì con gái. Họ quan niệm hồn lúa cũng như hồn người.
Đây là giai đoạn quan trọng quyết định và ảnh hưởng đến năng suất
cây lúa. Lễ này khác với lễ trước là lễ vật cúng 1 con dê, 5 mâm
cơm, rượu, trứng, trầu cau… Chủ tế lễ là thầy Kadhar kéo đàn Rabap
(đàn tương tự như đàn nhị người Kinh), ông Cai mương (Hamu ia)
hoặc ông Camưney. Các vị thần linh được mời về dự lễ cũng tương tự
như lễ vừa nêu trên nhưng nội dung hành lễ này phong phú hơn, thầy
Kadhar vừa kéo đàn Rabap vừa mời các vị thần và hát về những bài
thánh ca, ca ngợi công đức của các vị thần mẹ (Po Inư Nưgar) đã
dạy người trồng lúa, cày cấy đem lại lúa gạo cho người Chăm và hát
ngợi ca các vị thần thủy lợi như Po Kluang Garai, Po Rame đã đem
nước về cho dân làng tưới tiêu, trồng lúa.
Lễ thu hoạch lúa (Iew Yang Trun Yuak):
Lễ này thường diễn ra vào
tháng 11 lịch Chăm (tháng 10 âm lịch). Khi cúng lễ, người Chăm
phải chọn ngày tốt (ngày thứ tư hoặc thứ bảy) để xuống gặt lúa. Lễ
này do ông Cai mương hoặc ông Cai đập cúng (ôn Binưk). Lễ vật gồm
có 1 cặp gà, rượu, trứng, trầu cau, xôi chè… Nội dung cúng tương
tự như lễ lúa làm đòng. Khi lễ cúng này kết thúc thì ông thầy cúng
bước xuống ruộng, dùng lưỡi liềm cắt một bó lúa để khai lễ ngày
gặt lúa. Cách 3 ngày sau ruộng lúa mới được thu hoạch. Bó lúa lễ
được chủ ruộng đem về nhà để trên trần nhà đến mùa sau thì đem ra
cúng.
Lễ lúa mới lên sân (Da a patai tagok lan):
Lễ này nội dung tương
tự như lễ cúng lúa làm đòng. Mục đích là lễ tạ ơn các vị thần
thánh, tổ tiên đã phù hộ độ trì cho họ thóc lúa đầy bồ.
Nói chung qua 5 lễ nghi nông nghiệp của người Chăm như trên, đã
phản ảnh nhu cầu sinh trưởng của cây lúa (từ lúc cày gieo, lúa đẻ
nhánh, lúa đơm đòng đến lúa chín). Mặc dù đây là lễ nghi tổ chức
từng gia đình nhưng lại liên quan đến mùa vụ của cả cộng đồng nên
nó trở thành lễ hội cộng đồng. Ngày nay, kể từ sau năm 1975 thì hệ
thống lễ nghi nông nghiệp này không còn phụ hợp nữa mà đã biến
mất.
Lễ cầu đảo (Palau Sah):
|
 |
|
Lễ hội cầu đảo |
Lễ palau sah là lễ cầu đảo liên quan đến cầu mưa, cầu nước của
người Chăm. Lễ được tổ chức vào tháng 4 lịch Chăm. Lễ này ngoài tổ
chức ở các đền tháp Chăm còn được tổ chức tại các cửa biển. Đây là
lễ chung cho cả cộng đồng Chăm Ahiêr (Chăm ảnh hưởng Bàlamôn) và
Chăm Awal (Chăm ảnh hưởng Hồi giáo).
Ngày xưa, cứ đến tháng 4 Chăm lịch - mùa khô hạn nắng nóng thì
người Chăm đến các cửa biển Lâm Ngư (xã Phương Hải, Ninh Hải) và
gần cửa biển Cà Ná (Phước Diêm - Ninh Phước) và cửa biển Mỹ Tân
(Mỹ Tường, Ninh Hải) để cúng lễ.
Lễ Palau sah là một nghi lễ tổng hợp của các lễ thức người Chăm.
Đây là lễ cúng chung cho các vị thần Chăm như các vị thần Bàlamôn
(Yang bimon - yang aklak), các thần Hồi giáo - Bàni (yang birow -
thánh alla); thần núi, thần sông, thần biển… Các vị chức sắc cúng
lễ như tu sĩ Paseh của nhóm Chăm Ahiêr, tu sĩ Acar của nhóm Chăm
Awal, thầy cúng tín ngưỡng dân gian như Kadhar (thầy kéo đàn
Rabap), thầy Mưduôn (thầy vỗ trống Basanưng), thầy Ka-in (thầy
bóng), Muk Pajau (Bà bóng), ông Cai đập (binưk), ông Cai mương
(Hamu ia)…
Riêng lễ Palau Sah (cầu đảo) ở Bĩnh Nghĩa (Ninh Hải) có nội dung
khác lễ cầu đảo (Yuơr yang) ở các vùng Chăm khác. Lễ Palau sah ở
thôn Bĩnh Nghĩa có nội dung tương tự như lễ hội múa Rija Nưgar (Lễ
hội múa tống ôn đầu năm). Còn lễ Palau sah ở vùng Chăm có đặc điểm
chung như nhau và bao gồm các tiểu lễ như sau:
Lễ Rija harei (lễ múa ban ngày): Lễ này được tiến hành trong một
nhà lễ làm bằng tre, mái lợp bằng tranh hoặc bằng tấm bạt, hướng
mặt về phía mặt trời lặn. Lễ vật gồm có 1 con gà, 5 mâm cơm (mỗi
mâm có cơm, canh cá và cá khô), 3 mâm chuối, hai mâm trầu, rượu,
trứng… và 5 mâm xôi chè.
Lễ do Mưduôn (thầy vỗ trống Basanưng) và ông Ka-in (thầy bóng thực
hiện). Đặc điểm của lễ này là Mưduôn vỗ trống Basanưng hát mời các
vị thần như thần núi (Po cơk), thần sông biển (Po Riyak), thần
chèo thuyền (po tang ahuak), thần giữ rừng trầm (Po gilau), đặc
biệt là thần thủy lợi như Po Klaung Garai, Po Rame… Khi ông Mưduôn
hát các tiểu sử ca ngợi các công lao đức độ của các vị thần thì
thầy bóng (Ka-in) múa phụ họa trong tiếng trống Ginăng, Basanưng,
kèn Saranai Chăm. Bà con dân làng dự lễ cầu cúng khấn vái và tham
gia múa mừng.
Lễ cúng Rija Dayuap (lễ cúng ban đêm): Lễ này được tiến hành vào
lúc chiều tối hoặc ban đêm do Kadhar (thầy kéo đàn Rabap) và bà
bóng (Muk Pajau) thực hiện. Lễ này có sự tham gia của tu sĩ Po
Acar nhóm Chăm Awal. Lễ vật gồm 1 con dê, 5 mâm cơm, xôi chè, trầu
cau, rượu trứng, bánh trái… Thầy Kadhar (thầy kéo đàn Rabap) hát
mời các vị thần như Po Au loah, Po Bal Gina, Po Cah ya, và thần mẹ
xứ sở (Po Inư Nưgar), Po Klaung Garai, Po Rame (Vua Chăm được suy
tôn thành thần thủy lợi), thần núi (Po Cơk), thần sông (Po Patau
Ia), thần biển (Yang tasik)… Ông Kadhar hát thì bà bóng múa phụ
họa…
Lễ tế thần lửa (cuh yang apui): Lễ này do tu sĩ paseh thực hiện.
Đây là lễ cúng các vị thần Chăm ở đền tháp (yang Bimon) đặc biệt
là cúng tế thần lửa (yang apui) để cầu thần lửa đem lại lửa làm
sấm chớp, mây, mưa… Nội dung lễ này tương tự như lễ nghi đốt thần
lửa ở đền tháp Chăm.
Lễ rước gậy thần của tu sĩ Acar (Gay bhong): Lễ này do nhóm tu sĩ
Chăm Awal thực hiện. Nghi lễ này rất long trọng, Po Acar và dân
làng rước gậy thần (Gay bhong) - gậy lễ rao giảng kinh của thánh
Mohamach từ thánh đường hồi giáo đến cửa sông, cửa biển để cầu
mưa. Nghi thức cúng lễ này tương tự như lễ hội Ramưwan Chăm Awal.
Lễ vật gồm 5 mâm xôi chè, chuối. Tu sĩ Po Acar đọc kinh Coran, cầu
thánh Alla (Pamrơ) về hưởng lễ, dâng làng van vái, cầu khấn cho
thánh Alla hiệu nghiệm, ban cho dân làng mưa thuận gió hòa, mùa
màng tốt tươi.
Ngoài lễ Palau Sah (Lễ cầu đảo) như trên, vào thời điểm này (tháng
4 lịch Chăm), từng làng người Chăm còn tổ chức lễ hội cầu đảo cho
riêng mình, chủ yếu họ cầu cúng Po Nai (Nữ hoàng đi tu tại núi Chà
Bang - Ninh Thuận) và lễ cúng Po Riyak (thần sóng biển)… Lễ này
diễn biến tương tự như lễ múa ban ngày (Rija harei) do thầy Maduôn
và Ka-in thực hiện. Lễ lôi cuốn cả dân làng tham gia trở thành
ngày hội của các palei Chăm.
Nói chung Lễ Palau Sah là lễ nghi tổng hợp của người Chăm. Lễ này
không những tập trung các chức sắc, tu sĩ, các loại hình tôn giáo,
tín ngưỡng mà nó còn lôi kéo được dân làng, từng thôn và từng khu
vực tham gia. Cùng với lễ Palau Sah (cầu đảo), thời điểm này còn
có lễ cầu đảo Po Nai, Po Rijak đã góp phần làm cho lễ hội Chăm sôi
động hẳn lên. Đây là thời điểm lễ hội Chăm diễn ra khắp nơi, từ
bãi trống đầu làng đến mỏm núi, bờ sông, bờ biển là cho làng Chăm
thực sự là mùa trẩy hội. Tháng tư là mùa nắng nóng - mùa cầu mưa,
cầu nước - mùa cầu khấn cho dân làng khỏi bệnh tật bởi sức nóng
khắc nghiệt của vùng nhiệt đới. Do vậy thời điểm này là mùa diễn
ra nhiều nghi lễ hội hè ở khắp mọi nẻo của làng - Palei Chăm.
Lễ chặn nguồn nước (Kap kraung Halau): Sau khi làm lễ cầu đảo,
trời bắt đầu ban xuống cơn mưa cho dân làng cày cấy. Để tránh mưa
nhiều, gây ra bão lụt thì người Chăm còn tổ chức làm lễ chặn nguồn
nước. Lễ này được thực hiện ở các cửa sông lớn. Lễ được diễn ra ở
hai cộng đồng Chăm Ahiêr và Chăm Awal. Lễ này có nghi thức diễn ra
khá long trọng do các tu sĩ po Acar, Ong binưk (cai đập)… thực
hiện. Trong lễ này, ngoài việc lễ vật là 5 mâm cơm và xôi chè,
người Chăm còn rước gậy lễ rao giảng kinh của Mohamach (Gay bhong)
ở trong thánh đường (sang mưgik) đến cửa sông. Trong nghi lễ này
có 9 tu sĩ Acar nhóm Chăm Awal - Chăm ảnh hưởng Hồi giáo mặc áo
màu đen (aw juk) để thực hiện lễ. Họ đọc kinh Coran… cầu nguyện
thánh Alla xin đừng mưa nhiều, gây lũ lụt phá hoại mùa màng, nhà
cửa, xóm làng. Khi lễ kết thúc tất cả tu sĩ Po Acar ở trần lội
xuống sông làm lễ “té nước” và kết thúc nghi lễ.
Nghi lễ này ngoài chức sắc, tu sĩ thực hiện còn có sự tham gia của
một số dân làng, tín đồ ở các thôn, các vùng cùng hưởng chung đập
nước tham gia cúng lễ. Tất cả bà con dân làng cúng lễ vật đều cầu
mong cho trời ban cho mưa thuận gió hòa, không gây lũ lụt phá hoại
mùa màng.
Lễ tế trâu (Ngak kabaw yang patau): Lễ tế trâu là loại lễ nghi
cúng tế lớn nhất trong hệ thống lễ nghi nông nghiệp của người
Chăm. Lễ được tổ chức 7 năm 1 lần. Lễ vật cúng một con trâu trắng
tại núi Đá Trắng thuộc thôn Như Ngọc, Ninh Phước, Ninh Thuận.
Nguồn gốc của lễ này theo truyền thuyết kể lại: Ngày xưa khi người
Chăm chưa có vua, ông “kay Klong, kay Biên” mới đào đất lấp biển,
phá núi để hình thành đất đai, sông biển cho người Chăm. Lúc đó ở
xứ Chăm có một Chằn tinh (Rak) từ đâu xuất hiện đòi làm vua xứ
Chăm. Chằn tinh đòi vua Chăm phải nộp nhiều thứ thuế và nộp cả
người đẹp. Về sau Chằn tinh còn đòi vua Chăm nộp cả công chúa.
Thấy Chằn tinh ngày càng gieo tai họa cho dân làng, và để cứu công
chúa ra khỏi tay Chằn tinh. Vua cầu xin thần linh phù hộ cho dân
làng và giúp vua tiêu diệt cho được Chằn tinh. Vua tập trung dân
làng, ra tay chiến đấu nhiều ngày đêm với Chằn tinh. Cuối cùng
Chằn tinh bị vua chém đầu, Chằn tinh bị giết chết, xương chất đống
thành núi màu trắng. Từ sự tích đó, tại làng này có một ngọn núi
Đá Trắng, trên núi có một cái hang sâu mà dân gian gọi hang đó là
đầu và miệng của Chằn tinh và lấy tên núi đó là “Cơk yang Patau”
(Núi vua chúa). Từ đó dân làng thoát khỏi tai họa. Về sau để trừ
Chằn tinh phá hoại dân làng, mùa màng, dân làng thường cúng trâu
trắng 7 năm một lần.
Lễ cúng trâu trắng do Cai lệ (Hamu ia), thầy Kadhar (thầy kéo đàn
Rabap), Muk pajau (bà bóng) thực hiện… Lễ được thực hiện một ngày
từ sáng đến chiều. Trong buổi sáng, Ong Cai lệ dắt trâu trắng đến
chân núi Đá Trắng và làm lễ tâu trình với thần yang tại tấm bi
“Yang tikuh” (thần Chuột) bằng lễ vật 3 trứng gà, rượu và trầu
cau… Sau khi tâu trình thần yang, ông Cai lệ trở lại chân núi Đá
Trắng, ông Cai lệ đọc lời khấn làm lễ tẩy uế con trâu và xin phép
thần yang làm lễ cắt cổ trâu. Nghi thức lễ cắt cổ trâu diễn ra rất
trọng thể. Trước khi bị cắt cổ cúng thần, con trâu được làm lễ tẩy
thể bằng “nước thần” (nước có pha cát lồi). Sau đó trâu được buột
lại bốn chân và vật ngã nằm xuống đất. Ông Hamu ia (Cai lệ) cầm
cây kiếm dài hướng về phía mặt trời mọc, tay cầm 3 tem trầu cau và
một nắm gạo trắng vung lên trời để cầu siêu cho linh hồn con trâu.
Ông Hamu ia cầu thánh Alla, thần đất, thần núi Đá Trắng, thần Chằm
tinh (Cơk yang patau)… cho phép ông được cắt cổ trâu và các vị
thần sớm cầu siêu cho linh hồn con trâu và các vị thần nhanh mà
đến hưởng lễ. Hết lời cầu khấn ông cắt cổ trâu. Trong lúc cắt cổ
trâu ông Cai lệ nín thở cho đến khi huyết trâu chảy hết và trâu
tắt thở trong tiếng chiêng và lời hát lễ của thầy Kadhar kéo đàn
Rabap.
Lễ vật cúng thần yang, thần Chằm tinh ở núi Đá Trắng, ngoài thịt
trâu còn có hai con gà luộc, bánh chà cung (bánh bột gạo), 2 chén
rượu cần, trứng, trầu cau, bánh trái…
Địa điểm cúng lễ ngoài tại chân núi Đá Trắng - nơi hành lễ chính,
họ còn cúng tại nơi dựng tấm bi “Yang Tikuh” một mâm cơm, 1 mâm
thịt, 1 mâm cỗ bánh (bánh tét, trái cây hoa quả). Và cúng tại đỉnh
núi đá trắng gồm: 1 mâm cơm, một mâm thịt trâu, 1 cỗ bánh, 1 thau
huyết trâu.
Nghi thức hành lễ, thầy Kadhar kéo đàn Rabap hát thánh ca mời các
vị thần thì ông Cai lệ (Humua ia) đánh chiêng và Bà bóng (Muk
pajau) dâng lễ vật. Họ mời các vị thần như thần đất (Po bhum), các
vị thần núi ở núi đá trắng (Po cơk yang patau), thần sông (Po
patau ia), thần mẹ xứ sở (Po Inư Nưgar), thần thủy lợi (Po Klaung
Garai, Po Rame), thần chuột phá hoại mùa màng (Yang tikuh)… Lễ này
có sự tham gia của dân làng ở khu vực núi Đá Trắng, họ cũng dâng
bánh trái, cầu khấn, múa mừng tạo thành một lễ hội mang tính khu
vực. Lễ này từ lâu đã trở thành phong tục, tín ngưỡng của người
Chăm. Do đó cứ 7 năm 1 lần, người Chăm tổ chức lễ cúng trâu tại
núi Đá Trắng. Dân gian Chăm có câu tục ngữ để tưởng nhớ đến tục lễ
trên như sau:
Bilan năm yang tikuh
Bilan tajuh yang patau
(Tháng sáu cúng thần chuột phá hoại mùa màng
Tháng bảy cúng thần Chằn tinh ở núi Đá Trắng)
(Trích dẫn: "Lễ hội
của người Chăm" - Tác giả: Văn Món - Sakaya)
|
|