TỔNG QUAN  

TÍN NGƯỠNG - TÔN GIÁO

 

PHONG TỤC TẬP QUÁN

 
Các lễ nghi người Chăm BàLamôn  
Các lễ nghi người Chăm BàNi  

Tập tục ăn uống

LỄ HỘI

 
Lễ hội liên quan đến Nông nghiệp  
Lễ hội cúng tế thần linh  
Lễ hội múa Chăm  
Lễ hội ở Thánh đường  
Lễ hội Chăm ở các Đền tháp  

TRANG PHỤC

 

NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG

 

NGHỆ THUẬT MÚA

 

KIẾN TRÚC - ĐIÊU KHẮC

 

LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

 
Dệt thổ cẩm  
Gốm Bàu Trúc  
 

Lễ hội của người Chăm ở các Đền - Tháp

Lễ hội Katê

Hệ thống lễ hội ở đền tháp Chăm bao gồm có 4 lễ như sau: Lễ mở cửa tháp (pơh bang yang) được tổ chức vào tháng giêng; lễ cầu đảo (yuơr yang) được tổ chức vào tháng 4; lễ hội Katê được tổ chức vào tháng 7 và lễ hội cúng Nữ thần (Chabun) được tổ chức vào tháng 9 lịch Chăm. Tất cả 4 lễ nêu trên, xét về nghi thức hành lễ, lễ vật cúng tế đều có điểm chung như nhau, chỉ khác nhau về tên gọi, mục đích, ý nghĩa, quy mô và một số tiểu tiết nghi lễ.

I. Lễ mở cửa tháp Chăm (Pơh băng yang):

Thời gian, địa điểm và mục đích của lễ mở cửa tháp: Lễ mở cửa tháp (pơh bang yang) là lễ mở đầu năm cho lễ cúng tế đền tháp Chăm vào thượng tuần trăng tháng 11 (bilan piuc) lịch Chăm. Lễ được diễn ra ở 3 đền tháp (Bi môn, kalan) như đền Po Inư Nưgar - Hữu Đức (Ninh Phước – Ninh Thuận), Tháp Po Klaung Garai (Đô Vinh – Tháp Chàm) và tháp Po Rame (Hậu Sanh – Ninh Thuận). Mục đích của lễ này là nhằm dâng lễ vật cầu xin các vị thần đền tháp cho mưa thuận gió hoà, dân làng khoẻ mạnh, được phép khai trương, đắp đập, chuẩn bị cho việc cày gieo...

Hành lễ mở cửa tháp: Lễ hội ở đền tháp nói chung, cũng như lễ mở cửa tháp (Pơh bang yang) là được điều hành bởi ban tế lễ chức sắc đạo Ahiêr (Chăm ảnh hưởng Bàlamôn) bao gồm:

- Thầy cả sư (Po Dhia) trù trì đền tháp làn chủ lễ.
- Thầy kéo đàn Rabap (Ôn Kadhar) hát thánh ca.
- Bà bóng (Muk Payâu) dâng lễ lên các vị thần.
- Ông Từ (camưnay) chủ trì lễ tắm tượng.
- Và cùng một số tu sĩ Paseh phụ lễ.

Lễ vật dâng cúng lễ đền tháp bao gồm:
- 01 con dê
- 03 con gà làm lễ tẩy uế đất tháp
- 05 mâm cơm, canh cúng với thịt dê
- 01 mâm cơm với muối vừng (lithey thap)
- 03 cỗ bánh gạo và hoa quả

Ngoài ra còn có rượu trứng, trầu cau, xôi chè...

Hệ thống thần linh: Hệ thống thần linh cúng tế ở đền tháp Chăm chủ yếu là các vị anh hùng, các vị văn hoá được người Chăm suy tôn thành thần thánh. Ngoài ra họ còn cầu cúng các vị thần đất thần sông, thần mây, mưa, sấm chớp, thần lửa... Cụ thể là các vị thần sau đây:

Po Ginôr Mưtri (thần Siva)
Po Inư Nưgar (thần mẹ xứ sở)
Po Klaung Garai (vua Chăm thế kỷ XIV)
Po Bin Thuôr (vua Chăm thế kỉ XIV)
Po Rame (vua Chăm thế kỉ XVII)
Po Par (tướng quan văn)
Po Sah (thần Po sah)
Po Klaung Kasat (thần Po Kasat)
Po Dam (Chàng trai trẻ)
Po Bia Sôi (Hoàng Hậu)
Po Bia Binưn (Hoàng Hậu)
Po Bia Than Cih (Hoàng hậu vua Po Rame)
Po Bia Than Can (Hoàng hậu vua Po Rame)
Po Bia Than Yang (Hoàng hậu vua Po Rame)
....

Sau khi lễ vật đã chuẩn bị xong, ban tế lễ đã sẵn sàng thì lễ hội bắt đầu tiến hành lễ. Hành lễ mở cửa tháp bao gồm lễ mở cửa tháp (pơh bang yang), lễ tắm tượng thần (mưney yang), lễ mặc y phục (angui khan aw), đại lễ (mưliêng yang)..., đặc biệt là phần đại lễ có dâng lễ vật, mỗi vị thần mời về dự đều được ông thầy Kadhar kéo đàn Rabap hát bài thánh ca, ca ngợi công đức của các vị thần... Các bước nghi lễ này tương tự như lễ hội Katê và lễ hội cúng Nữ thần (lễ Chabur) sẽ trình bày ở lễ hội Katê. Nhưng chỉ có điều là lễ mở cửa tháp có quy mô tổ chức nhỏ hơn lễ hội Katê. Lễ chưa qui tụ được cộng đồng mà chỉ dừng lại ở phạm vi lễ, không có phần hội.

II. Lễ cầu đảo (Yuơr - Yang) ở các đền tháp Chăm:

Thời gian, địa điểm, mục đích và ý nghĩa của lễ: Lễ cầu đảo (yuơr yang) là một trong những lễ chính nằm trong hệ thống lễ hội ở đền tháp Chăm. Lễ diễn ra ở 3 đền tháp: Tháp Po Inư Nưgar, Po Klaung Garai và Po Rame. Lễ được diễn ra vào thượng tuần trăng tháng 4 lịch Chăm. Đây là thời điểm nắng nóng khô hạn nên người Chăm tổ chức lễ nhằm để cầu mưa cho mùa màng tốt tươi; con người, vật nuôi khoẻ mạnh.

Hành lễ cầu đảo (yuơr - yang): Lễ này chủ yếu là do tu sĩ Paseh mà đứng đầu là cả sư (Po Dhia) hướng dẫn thực hiện. Trong lễ này, lễ chính là lễ “cúng thần lửa” (cuh yang apui) tại tháp lửa (sang yang apui) trong cụm kiến trúc tháp Chăm. Lễ được thực hiện trong thời gian 2 ngày 1 đêm.

- Lễ tẩy uế đền tháp (talih tamưh): nghi lễ bắt đầu bằng việc “tẩy uế đền tháp” (talih tamưk) ở xung quanh đất tháp theo 8 hướng: Hướng đông - hướng chính (pur), đông nam (akrik), tây nam (nairati), hướng tây (pay), hướng bắc (êsan), tây bắc (pay yop), đông bắc (esan). Lễ bắt đầu khởi hành từ hướng đông vòng quanh đất tháp theo chiều kim đồng hồ và kết thúc ở hướng đông bắc (êsan). Mỗi hướng khi hành lễ thì tu sĩ đọc kinh và thổi tù và bằng loại ốc biển và đặt lên mỗi hướng một nắm cơm vo tròn đặt tên những chiếc lá. Nội dung hành lễ nhằm tẩy sạch sự ô uế ở đất tháp - nơi ngự trị của thần linh trước khi hành lễ.

- Lễ đọc kinh (bac gar pruang): Sau khi kết thúc lễ tẩy uế đền tháp, thì các tu sĩ (Paseh) tổ chức lễ đọc kinh vào buổi tối tại tháp chính. Lễ vật cho lễ đọc kinh gồm có: Rượu trứng, chè, xôi, 01 trái dừa và 12 cây nến (dài khoảng 0,6m-0,8m). hành lễ đọc kinh (Gar praung) gồm có 4 bài tên là: Lok Katê, Ekamap, Inư, Gru taha. Tất cả nội dung bài kinh được viết bằng chữ Chăm (akhar thrah) trên 400 quẻ lá buông. Những bài kinh đó được các tu sĩ thay phiên nhau đọc. Mỗi bài kinh khi đọc được thắp sáng 3 cây nến. Ánh sáng của nến vừa dùng để đọc kinh trong đêm tối vừa là nghi thức lễ không thể thiếu được trong tục cúng tế của người Chăm. Lễ đọc kinh cứ liên tục, các tu sĩ Paseh cứ lần lượt thay phiên nhau đọc từ bài thứ nhất đến bài thứ tư, kéo dài đến tận sáng hôm sau thì mới kết thúc. Nội dung của bài “Đại kinh” (Gar praung) theo các vị tu sĩ cho biết là: Bài kinh về tiểu sử, công lao của các vị thần lửa (yang apui), thần mặt trời (yang Aditiak), thần đất (yang tanưh)... Những vị thần ấy từ thuởa hoang sơ đã ban sự sống cho muôn loài. Nội dung “Đại kinh” (Gar pruang) còn là lời cầu khấn trang nghiêm của con người nhằm đánh thức các vị thần linh và những sinh linh của vũ trụ về chứng giám tế lễ.

- Lễ đốt thần lửa (cuh yang apui): Sau khi kết thúc lễ đọc kinh thì diễn ra lễ đốt thần lửa. Lễ vật cúng lễ đốt thần lửa gồm có một con dê luộc, rượu trứng, chuối, trầu cau... Ngoài ra ở bàn tổ cúng lễ còn có lễ vật “Brah man” được cấu tạo như sau: “Brah man là một hình thể của vũ trụ thu nhỏ được tạo thành bằng một tấm vải trắng” (dài 0,5x rộng 0,3m). Ở trên tấm vải được đổ một lớp gạo mỏng, có vẽ hình Homkar (Hình vẽ âm dương Chăm) và trên lớp gạo có đặt 8 cục cơm vo tròn trên 8 chiếc lá cây đặt ở 8 hướng. Trên lớp gạo còn có hình nhân, hình thú, các hạt ngũ cốc và có cả đất, nước, lửa... Ngoài ra trên bàn tổ lễ này còn có các vật lễ khác:

- 01 đĩa gạo, và trên đĩa gạo có đặt 3 vỏ sò biển (Brah kran)
- Một hình bò thần Nandin bằng gỗ (vật tổ của đạo Bàlamôn)
- 01 bó củi nhỏ bằng nắm tay đặt ở giữa bàn tổ để làm lễ đốt thần lửa.
- 01 bó rạ tượng trưng cho cây lúa.
- 01 chén dầu dừa có tim thắp sáng bằng vải dùng để hành lễ.

Khi các vật lễ trên được chuẩn bị xong thì cả sư (Po Dhia) bắt đầu hành lễ. khởi đầu cho nghi lễ đốt thần lửa (cuh yang apui) thì thầy cả sư (Po Dhia) đứng quay mặt về phía mặt trời mọc đọc kinh cầu các vị thần như sau: “Hỡi vị thần lửa, thần đất, thần trời... hãy về đây chứng giám lễ đốt thần lửa với chúng con” (Tahah di yang apui, tatah di tanưh riya, tatah di akal...)

Sau lời cầu khấn các vị thần thì cả sư vào ngồi bàn tổ (sanai) để thực hiện lễ trong tiếng cầu kinh của các vị tu sĩ Paseh. Khi cả sư (Po dhia) cúng lễ thì chén dầu dừa được thắp sáng, bó củi ở bàn tổ (sanai) cũng được đốt cháy bốc khói (chỉ đốt tượng trưng). Khi lửa cháy bốc khói thì cả sư (Po Dhia) cấm bó rạ, những vật lễ như hình người, hình nhân, ngũ cốc... lần lượt hơ lên lửa. Cuộc hành lễ diễn ra trong lời kinh cầu nguyện của các tu sĩ Paseh và những bài thánh ca của ông Kadhar (thầy đàn Rabap) ca ngợi các vị thần Chăm có công trong việc tạo ra lửa, nước, trồng lúa, làm thủy lợi, đắp đập, ngăn sông như Po Inư Nưgar, Po Klong Garai, Po Rame... Khi các bài kinh, bài thánh ca kết thúc thì các lễ vật được cả sư (Po dhia) làm phép hơ lên ngọn lửa vừa đốt để những lễ vật ấy hấp thụ sức nóng của lửa, của mặt trời và cuối cùng đem những vật lễ ấy đến thả trôi ở dòng sông, kết thúc nghi lễ đốt thần lửa (cuh yang apui).

- Lễ đắp đập (taleh jamưng tăm): Sau khi lễ đốt thần lửa xong thì vào sáng hôm sau người Chăm làm lễ đắp đập khai mương tại một khúc sông thuộc Sông Dinh. Lễ này do ông Binưk (ông cai đập) phụ trách tế lễ. Nhưng trước khi cúng lễ này thì phải có thầy Kadhar (thầy kéo đàn Rabap), bà bóng (Muk pajau) cúng lễ tại tháp Po Klaung Garai - vị thần được người Chăm suy tôn thành thần thủy lợi. Nghi thức lễ diễn ra trong tháp tương tự như lễ mở cửa đền (pơh bang yang). Sau khi kết thúc lễ cúng thần Po Klaung Garai ở đền tháp thì ông Binưk (cai đập) và thầy Kadhar (thầy kéo đàn Rabap) làm lễ cúng 01 cặp gà, 5 mâm cơm, rượu trứng, trầu cau... để cúng các vị thần Po Inư Nưgar, Po Klaung Garai, Po Rame... và ông Binưk (cai đập) mời các vị thần Po Tang, Po Galau, Po Klaung Kasat, Po Sah, On Pasa, Muk Caklaing... xin được phép đắp đập ngăn sông đưa nước về đồng ruộng. Sau khi cúng hết các thần yang thì ông Binưk (cai đập) cầm cây nọc gỗ và các nhánh cây khô đã chuẩn bị trước đem xuống sông để làm nghi thức khởi công đắp đập, chặn nguồn nước. Lễ đắp đập được kết thúc bằng lễ thả 01 gà con xuống sông trước sự chứng kiến dân làng. Lễ này nhằm mục đích nhắc nhở, giáo dục muôn dân trong việc đắp đập, ngăn sông, nạo vét kênh mương hàng năm để dẫn nước về đồng ruộng cho dân làng cày cấy.

Tóm lại: Toàn bộ nghi lễ cầu đảo (yuơr yang) ở các đền tháp Chăm diễn ra nhiều nghi lễ khác nhau như lễ tẩy uế đền tháp (talik tanưk), lễ đốt thần lửa (cuh yang apui), (lễ cúng thần đền tháp (mưliêng yang bimôn), lễ đắp đập (taleh jamưng tăm). Trong đó, nghi lễ và chủ đề chính là lễ đốt thần lửa. Đây là sự tái tạo, thu nhỏ của các lễ nghi cộng đồng Chăm liên quan đến tục thờ thần lửa, thần mặt trời, thần nông, thần thủy lợi... của một cư dân nông nghiệp làm lúa nước. Lễ này còn nhằm hướng tới sự cân bằng âm – dương (nước - lửa) của vũ trụ với nhiều tên gọi dân gian khác nhau như lễ đốt thần lửa (cuh yang apui), lễ cầu đảo (yuơr yang) hoặc có một loại lễ cầu đảo ở cửa biển gọi là “yuơr yang palau sah”. Lễ này vì gắn liền với nghề nông, gắn liền với cầu mưa, gắn liền với thủy lợi, đắp đập ngăn sông cho nên đây là một loại lễ, một sự kiện rất quan trọng trong năm đối với người Chăm - một cư nông nghiệp trồng lúa nước. Vì vậy xưa kia, trong dịp lễ này là ngày hội của nông dân ở đồng ruộng, cho công việc đồng áng, khai mương đắp đập. Ngày nay, do sự phát triển về thủy lợi, về khoa học kĩ thuật nên lễ này chỉ dừng lại ở phạm vi lễ, phần hội đã biến mất và người Chăm chỉ xem đây là công việc của các vị chức sắc. Dầu vậy hiện nay, lễ cầu đảo (Yuơr yang) đã là một bộ phận cấu thành trong hệ thống lễ hội ở đền tháp và góp phần làm phong phú thêm cho lễ hội người Chăm.

III. Lễ hội Katê:

Mục đích của lễ hội Katê: Lễ hội Katê được tổ chức mỗi năm một lần vào tháng 7 lịch Chăm. Đây là lễ hội của người Chăm nhằm tưởng nhớ các vị nam thần như Po Klaung Garai, Po Rame... và tưởng nhớ ông bà tổ tiên, trời đất đã phù hộ độ trì cho con người.

Không gian của lễ hội Katê: Katê là lễ hội lớn của cộng đồng người Chăm, được diễn ra trên một không gian rộng lớn từ đền tháp (Bi mon, kalan) – làng (palei) - đến gia đình (mưngawôm). Lễ hội được lần lượt tổ chức theo thứ tự trước sau tạo thành một dòng chảy của lễ hội Chăm phong phú, đa dang.

* Lễ hội Katê ở Tháp Chăm:

Tưng bừng lễ hội Katê

Tháp Chăm là nơi diễn ra lễ hội chính thức và long trọng. Lễ hội Katê được diễn ra ở cả 3 đền tháp Chăm như tháp Po Inư Nưgar (Hữu Đức - Ninh Thuận), tháp Po Klaung Garai (Đô Vinh - Ninh Thuận) và tháp Po Rame (Hậu Sanh - Ninh Thuận)...

Tất cả đền tháp Chăm đều diễn ra lễ hội Katê cùng ngày cùng giờ với nhau và kể cả bước hành lễ như lễ rước trang phục, lễ mở cửa tháp, lễ tắm thần, lễ mặc trang phục, đại lễ, hội và kể cả thành phần ban tế lễ ở các tháp đếu khác nhau. Ở đây chúng tôi xin mô tả lại lễ hội Katê ở tháp Po Klaung Garai (Đô Vinh - Ninh Thuận).

Ban tế lễ và lễ vật cúng Katê: Lễ hội Katê ở đền tháp được điều hành bởi ban tế lễ chức sắc nhóm Chăm Ahiêr (Chăm ảnh hưởng Bàlamôn) bao gồm:

- Thầy cả sư (Po Dhia) trụ trì đền tháp làm chủ lễ.
- Thầy kéo đàn Rabap (On Kadhar) hát thánh ca.
- Bà bóng (Muk Payâu) dâng lễ vật lên các vị thần.
- Ông Từ (Camưnay) chủ trì lễ tắm tượng.
- Và cùng một số tu sĩ Paseh phụ lễ.

Lễ vật dâng cúng Katê tại đền tháp bao gồm:
- 01 con dê
- 03 con gà làm lễ tẩy uế đất tháp
- 05 mâm cơm, canh cúng với thịt dê
- 01 mâm cơm với muối vừng (lithey thap)
- 03 cỗ bánh gạo và hoa quả
Ngoài ra còn có rượu trứng, trầu cau, xôi chè...

Sau khi lễ vật đã chuẩn bị xong, ban tế lễ đã sẵn sàng thì lễ hội bắt đầu tiến hành theo các bước sau:

Lễ rước trang phục (Rauk aw khan Po yang):

Lễ rước trang phục

Tất cả các trang phục của vua chúa thờ ở đền tháp Chăm đều do người Raglai cất giữ. Do vậy khi đến ngày lễ Katê thì người Chăm phải làm lễ đón rước người Raglai chuyển trang phục về lại các đền tháp Chăm. Đây là nghi lễ mở đầu cho ngày hội diễn ra rất trọng thể.

Lễ rước trang phục diễn ra ở 3 đền tháp: Đền Po Nưgar (Hữu Đức), Tháp Po Rame (Hậu Sanh) và tháp Po Klaung Garai (Đô Vinh, Tháp Chàm).

Trong ngày lễ rước trang phục Po Klaung Garai vào buổi sáng tại đền thờ Po Klaung Garai ở Phước Đồng (Ninh Phước - Ninh Thuận), đoàn người Raglai đã tập trung đầy đủ, ông Camưway (Ông từ giữ đền) dâng cúng lễ vật rượu trứng xin phép thần linh cho rước trang phục về tháp Po Klaung Garai cúng lễ. Khi lễ đón rước kết thúc thì trang phục vua Po Klaung Garai được đưa lên kiệu để đưa về tháp. Đoàn rước đi trên con đường dài 4km từ đền thờ làng đến tháp Po Klaung Garai. Đoàn rước lễ có đội múa hơn 100 người quạt tập thể trong tiếng trống Ginăng, kèn Saranai... Khi đoàn rước kiệu vua Po Klaung Garai về đền tháp thì đội múa lễ của đoàn múa mừng trước tháp. Đây cũng là điệu múa mừng khi kết thúc một công đoạn trong nghi thức hành lễ của người Chăm.

Lễ mở cửa tháp (Pơh băng yang): Sau khi kết thúc lễ rước trang phục thì các tu sĩ xin phép thần Siva (Po Ginôr Mưtri) làm lễ mở cửa tháp. Lễ này được diễn ra trước cửa tháp, được sự điều hành bởi cả sư (Po Dhia) và ông từ giữ tháp (Camưney). Lễ vật cúng xin mở cửa tháp gồm có: rượu trứng, trầu cau, nước tắm thần có pha trầm hương và các hương vị khác. Trong không khí trang nghiêm thầy cúng tế (Kadhar) hát cầu lễ thần linh như sau:

Chúng con lấy nước từ sông lớn,
Chúng con đội về tháp tắm thần
Chúng con lấy những tấm khăn dệt đẹp nhất,
Lau mồ hôi trên mình, tay chân của thần
...
(Jauk ia di kraung,
klak ba mai la ai ngak di yang Po
Mưk jiep ba mai ka Po nhjam takai,
Ni ngak yau nan klau băng...)

Sau khi đọc xong lời cầu nguyện ông Camưnay cầm lọ nước tắm thần tạc lên tượng phù điêu thần Siva trên vòm cửa chính của tháp. Tiếp đó, thầy kéo đàn Kadhar kéo đàn Rabap và Bà bóng (Pajau) tiến đến trước cửa tháp chính ngồi bên tượng bò thần Nadin để hát lễ xin mở cửa tháp. Lời hát lễ có đoạn sau:

Hãy xông hương trầm bằng lửa thiêng,
Hương trầm của người trần dâng lễ
Hương trầm bay toả ngát không gian,
Chúng con xin mở cửa tháp cúng thần
(Cuk dhuk pahol tangin),
Pơh băng yang bitau yang Po Klaung Garai la ayơt
Cuh dhuk klaung ba kabah kada,
Pơh băng yang Po Klaung Garai la a yơt)
...

Khi đoạn hát lễ kết thúc, thì đoàn lễ tiến vào tháp, bà bóng (Pajau) và ông Từ (Camưnay) bắt đầu mở cửa tháp trong khói hương trầm toả ra nghi ngút. Lễ mở cửa tháp kết thúc.

Lễ tắm tượng thần (Mưney yang): Lễ tắm tượng thần được diễn ra bên trong tháp. Lễ này gồm có thầy cả sư (Po Dhia), thầy Kadhar kéo đàn Rabap, bà bóng (Pajau), ông Từ (Camưnay) và một số tín đồ nhiệt thành thực hiện. Khi mọi người đã ngồi vào bàn lễ, xung quanh bệ thờ thần thì bà bóng rót rượu dâng lễ, thầy kéo đàn Rabap bắt đầu hát lễ theo. Bài hát lễ tắm thần có đoạn:

Chúng con mang nước này từ sông thiêng
xin tắm, gội đầu, rửa tay chân cho thần
Chúng con lấy nước từ sông thiêng,
Xin tắm và lấy khăn lau mình thần
thần đã về trời lâu ngày,
Hôm nay mới đến phù hộ độ trì chúng con.
(Jhauh ia di kraung,
đwa mai mưney Po Klaung Garai
Jhauh ia di kruang,
Klak ba mai mưway Po Klaung Garai
Mưk jiep nhjam ka Po Klaung Garai
Mưk jiep nhjam ka Po nhjam trik,
Po nau li wik di sap trik dauk la a yơt)

Trong tháp thầy kéo Kabap đang hát thì ông từ cầm lọ nước tắm lên pho tượng đá, mọi người bắt tay cùng nhau tắm thần. Lúc này những tín đồ nhiệt thành lấy nước từ trên thân tượng bôi lên đầu, lên thân thể mình để cầu sức khoẻ, tài lộc, may mắn.

Lễ mặc trang phục cho tượng thần (Angui khan aw Po yang): Sau khi lễ tắm thần kết thúc thì đến nghi lễ mặc áo cho thần. Lễ thức được tiến hành theo lời hát thánh ca của thầy Rabap. Lời thầy hát lễ đến đâu thi trang phục thần được mặc vào đến đó. Đầu tiên là lễ mặc váy, áo, khăn đội, thắt dây lưng, rồi mang giầy, đội mão... Lời thầy hát lễ như sau:

Nghe tiếng thác đổ trên núi cao,
Thần Po Klaung Garai mặc váy viền hoa về dự lễ
Tiếng thác đổ xuống rì rào,
Thần Po Klaung Garai mặc áo bào về dự lễ
Tiếng thác đổ xuống vịnh sâu,
Thần Po Klaung Garai đội mão vàng về dự lễ.
(Danưi ia lek di cơk,
Po Klaung krưn jih tamun di ia tagok mưney
Danưi ia lek di tul,
Yang Po Klaung Garai krưn taley kain jih tamun di
Ia tagok mưney
Danưi ia lek di sa,
Yang Po Klaung Garai krưn cuk aw lita di ia lagok la mưney...)

Khi thầy Kadhar kéo đàn Rabap hát thì ông (Camưney), bà bóng (Pajau) mặc váy, áo cho tượng thần, cứ tuần tự như vậy đến đội vương miệng thì kết thúc bài hát.

Đại lễ (mưliêng yang): Sau khi lễ mặc trang phục hoàn tất, lúc này tượng thần đã mang trên mình bộ long bào lộng lẫy, thì cũng là lúc vật dâng cúng được bày ra trước bàn thờ. Đại lễ bắt đầu, lúc này cả sư (Po Phia) làm chủ điều khiển nghi lễ, bà bóng dâng lễ vật, thầy kéo đàn Rabap hát mời các vị thần về dự lễ. Các vị thần được mời là các vị thần có công với dân với nước được dân làng ngưỡng mộ suy tôn như thần Po Nưgar (Thần mẹ xứ sở) , thần Po Klaung Garai, Po Par (tướng quan văn)... Mỗi vị thần được mời về dự thì bà bóng dâng lễ vật, thầy kéo đàn Rabap hát bài thánh ca, bà con dự lễ chấp tay cầu thần phù hộ độ trì cho họ sức khoẻ, mùa màng. Lời hát lễ của thầy kéo đàn Rabap có đoạn như sau:

- Hát về Nữ thần Po Nưgar:
Thần là Nữ thần xứ sở vĩ đại,
thần sinh ra đất nước con người
Thần mẹ cho trần gian cuộc sống,
thần cho cây cối tốt tươi con người nảy nở
Thần mẹ sinh ra cây lúa, đất đai, ruộng vườn,
Sinh ra thần Po Inư Nưgar
..
(Mưng kal ka jương tanưh jương likau,
mưng jương likau yang Po Inư Nưgar
Mưng kal ka jương tanưk jương twai,
Mưng jương paday yang Po Nưgar
Mưng kal ka jương tnưh jương drey,
Mưng jương yang Po Inư Nưgar)

- Hát về thần Po Klaung Garai:
Vào canh một, canh hai
Po Klaung Gara hiện về hưởng lễ vật
Vào canh hai, canh ba
Po Klaung Garai hiện về hưởng lễ vật
(Tuk sa tuk dwa,
Po Klaung mưdơh paliêng kaya ayơt
Tuk dwa tuk klau,
Po Klaung mưdơh paliêng kaya ayơt)

Ngài Po Klaung Garai dựng lên tảng đá,
Ngài đem ngăn sông đắp đập giữa núi
Dân làng phủ phục, tôn vinh ngài làm vua,
Xây tháp, tạc tượng thờ thần Po Klaung Garai

(Po Klaung trun nau ngak jadang,
Jương thak keung Jương bitau
U bih boh jơk ô ka pabơk kraung sa di krưk cơk
Jương di krưk năn mưng bhap bini poh jương patau
Dauk ngauk paban)
...

- Hát về thần Po Par:
Thần Po Par hoá phép tài ban đêm,
miệng vừa nói vừa cười
Từ ngọn núi cao xa,
hiện về hưởng lễ vật dâng cúng Katê
(Po par dauk pahuol mưng klam,
dang đom khim klao
Yang Po par dauk pak bah kapuak,
Pahuop thak paliêng di thak)
...

- Hát về Po Bia:
Ban đêm sương rơi trắng xoá,
Bao quanh phép thần thông của thần
Sương rơi trắng xáo trên đường,
dính vào chân hoàng hậu Bia Binưm,
(Klăm saung liteh lâu lâu,
Găm di canâu Bia Binưn
Klăm saung liteh way way,
Găm di takay bia binưn)

- Hát về thần Po Sah:
Thần Po Sah có hai tượng rắn,
vắt ngang qua đền thờ
Thần Po Sah có hai chim bồ câu,
Bay đậu hai bên cửa đền thần
(Po sah nưpal dwa,
dwa drey anưk ala sah dwa buah libang
Po sah nưpal klau dwa,
Dwa drey anưk katrau dam dwa libang)
...

- Hát mời thần Po Rame:
Nước tràn về đập vỡ ra,
Po Rame hiện về đắp đập giữ nước,
Thần Po Rame dẫn nước về cày cấy
(Pabơk karah ia pagah harơh,
Po Rame pabơk
Papơk binưk ia krưn tamư
Ka bhap bini ngak hamu...)

Nước về đập vỡ ào ra,
Trai làng chất đá đắp đập ngăn sông
Nước chảy thành hai nhánh sông,
Trai làng bơi thuyền trên sông nước
Hoàng hậu tắm mình trong dòng nước mát,
Đêm lạnh hoàng hậu ngủ ôm chồng
(Ia rauk talơh binưk,
kau păng hamit dam plơk bitau
Ia ragar kraung dwa ghah,
Dam plơh drey di gilai
Po Bia tok ia mưney li an
Dik drey klăm rawơk pasang)
...

Ba hoàng hậu Than Cih, Than can, Than yang,
Làm náo động sân đình chỉ vì thần Po Rame đẹp trai
Ba hoàng hậu Than Cih, Than Can, Than Yang,
Sắc đẹp toả sáng như thần mặt trời mọc lên
(Ni Po bia Than Can, Than Cih, Than Yang,
klau Po bia pauh gơp di blang ywa Po Ra me siam likei
Ni Po bia Than Can, Than Cih, Than Yang
Klau Po bia klak drey di blang ghơk yau yang harey)
...

Cứ như thế thầy kéo đàn Rabap hát mời trên 20 vị thần về dự, mỗi vị thần là một bài hát lễ. Thầy cả sư thì làm phép đọc kinh cầu nguyện xin thần về hưởng lễ vật mà phù hộ độ trì dân làng. Phần đại lễ kết thúc bằng vũ điệu múa thiêng của bà bóng.

Trong lúc bà bóng đang xuất thần điệu múa thiêng trong tháp để kết thúc đại lễ thì bên ngoài bắt đầu mở hội. Những điệu trống Ginăng, kèn Saranai cùng vang lên, đánh nhịp say xưa với những điệu múa, những dòng dân ca Chăm làm hấp dẫn, say mê lòng người. Không khí hội cứ thế mà náo nhiệt, rộn ràng cho đến lúc mặt trời ngả về chiều thì lễ hội Katê trên các tháp Chăm kết thúc.

* Lễ hội Katê ở làng:

Sau khi lễ Katê ở tháp kết thúc, thì không khí hội lại bùng lên ở làng Chăm. Trước ngày lễ dân làng phân công nhau quét dọn đền thờ, nhà làng, chuẩn bị sân khấu, sân bãi... Làng xóm như thay da đổi thịt. Cùng với việc trên, một bộ phận khác chuẩn bị lễ vật cúng thần. Các cô thợ dệt làng Mỹ Nghiệp (Ninh Phước – Ninh Thuận) xem xét kỹ lưỡng khung dệt, tơ sợi, một số khác chuẩn bị chum (Buk) để dự thi đội nước, thi dệt (thi tay nghề) do dân làng tổ chức.

Buối sáng ngày lễ, mọi người làm lễ cúng Katê ở “nhà làng” để cầu mong thần linh phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt. Tương tự như người Việt, mỗi làng Chăm đều thờ một vị thần riêng... Chẳng hạn làng Mỹ Nghiệp thờ thần Po Riyak, làng Hữu Đức thờ Po Klaung Halâu (Ninh Phước – Ninh Thuận). Lễ vật cúng tế Katê làng gốm có: 01 cặp gà (có làng cúng 1 con dê), 5 mâm cơm, bánh tét, hoa quả, rượu trứng... Trong lễ cúng tế thần làng, chủ tế lễ không phải là chức sắc tôn giáo mà thường là chủ làng (Po palei) hoặc già làng có uy tín và tinh thông chữ nghĩa, am hiểu phong tục tập quán. Ông thay mặt dân làng cúng lễ vật cho thần và cầu mong thần phù hộ độ trì dân làng.

Lễ Katê ở làng palei là dịp tụ họp các vị bô lão, chức sắc, trí thức, nhân hào nhân sĩ Chăm. Ở lễ này không có sự tham gia cúng tế của hộ gia đình. Tất cả người dự lễ đều cầu nguyện với thần làng phù hộ độ trì cho dân làng sức khoẻ bình an, được mùa màng, thịnh vượng. Lễ Katê làng chỉ diễn ra trong buổi sáng. Khi kết thúc lễ, mọi người ăn uống cộng cảm với nhau, chia tay chuẩn bị về họp mặt với Katê gia đình.

Nếu như Katê ở đền tháp nặng về phần lễ, thì Katê ở làng phần lễ rất đơn giản, còn phần hội đóng vai trò quan trọng. Ở làng Chăm phần hội diễn ra các trò chơi như thi dệt, đội nước, đá bóng, văn nghệ... Chẳng hạn như làng Mỹ Nghiệp (Ninh Phước - Ninh Thuận), nhiều trờ chơi và những cuộc thi diễn ra trên một sân bãi rộng. Khi cuộc khi dệt bắt đầu thì các khung cửi đã được xếp thành hàng. Các cô gái dự thi đã chuẩn bị sẵn tơ sợi, trong hơn một giờ đồng hồ nếu cô nào dệt được một tấm vải dài nhất, đẹp nhất thì sẽ thắng cuộc. Những chiếc thoi đưa hối hả, những sợi chỉ giăng mắc đủ màu tạo nên nền vải Chăm muôn màu, muôn sắc. Ở một địa điểm khác, cuộc thi đội nước diễn ra sôi động. Các cô gái Chăm duyên dáng khéo léo đội chum nước thi nhau về đích với một nét văn hoá độc đáo. Các chàng trai đấu bóng và đặc biệt chương trình hát văn nghệ đua tài với những dòng dân ca, dân vũ của những chàng trai, cô gái Chăm kéo dài đến tận đêm khuya mới kết thúc. Hội làng tan dần. Mọi người hân hoan trở về mái ấm gia đình để họp mặt gia tiên.

* Katê ở gia đình:

Khi lễ Katê ở làng kết thúc thì lễ Katê gia đình mới được tổ chức. Xưa kia ngày hội Katê kéo dài đến một tháng. Trong thời gian này gia đình nào có điều kiện thì mới tổ chức, nếu gặp lúc kinh tế khó khăn thì có thể mỗi dòng họ cử một gia đình để tổ chức, chứ không nhất thiết gia đình nào cũng làm. Ngày nay Katê gia đình đã được rút ngắn trong thời gian 01 tuần.

Cũng như lễ cúng thần làng, lễ vật cúng Katê ở gia đình cũng là 01 cặp gà 05 mâm cơm, bánh tét, hoa quả, trầu cau, rượu trứng... Chủ lễ cúng Katê là người trong gia đình hoặc là người lớn tuổi trong tộc họ. Vào ngày lễ này mọi thành viên trong gia đình đều có mặt đông đủ cầu mong tổ tiên thần linh phù hộ cho con cháu làm ăn phát đạt, tránh rủi ro, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. Đây cũng là dịp ông bà, cha mẹ giáo dục cho các thế hệ con cháu nhớ ơn, kính trọng tổ tiên. Trong dịp này, mỗi gia đình cũng chuẩn bị, bánh trái mời họ hàng, bạn bè đến thăm viếng, chúc tụng nhau. Làng Chăm chìm trong niềm vui, thân thiện, tình đoàn kết xóm giềng. Họ thực sự quên đi những vất vả, lo âu của đời thường để tận hưởng những giây phút thăng hoa ngắn ngủi trong cuộc sống còn nhiều khó khăn, bề bộn...

IV. Lễ hội Chabun - Lễ hội cúng nữ thần mẹ xứ sở:

Mục đích và ý nghĩa của lễ hội: Lễ hội Chabun là lễ lớn nhất cúng tế các vị nữ thần Chăm mà đứng đầu là thần mẹ xứ sở của người Chăm – Po Inư Nưgar Taha. Lễ hội được diễn ra vào tháng 9 lịch Chăm ở các đền tháp Chăm như đền Po Nưgar Hữu Đức (Ninh Phước – Ninh Thuận), tháp Po Klaung Garai (Đô Vinh – Tháp Chàm), tháp Po Rame (Hậu Sanh – Ninh Thuận)... Nhưng lễ hội này diễn ra tập trung nhất, qui mô nhất vẫn là lễ ở đền tháp Po Inư Nưgar Hữu Đức.

Lễ hội này là nhằm tưởng nhớ các vị Nữ thần và cầu xin các vị thần cho mưa thuận gió hoà, thóc lúa đầy bồ, con đàn cháu đống. Trong dịp lễ này, ngoài thành phần ban tế lễ, lễ vật dâng cúng, hệ thống thần linh cầu cúng, lễ rước trang phục, lễ mở cửa đền, lễ tắm tượng, đại lễ (cúng cơm, dâng rượu, hoa quả) tương tự như lễ hội Katê đã trình bày thì lễ còn có tục rước trầm hương, múa phồn thực, tục dâng gạo và nhiều lễ cầu xin con cái, cầu lộc, cầu tài, may mắn...

Hành lễ Chabun: Sau khi lễ vật đã chuẩn bị xong, ba tế lễ đã sẵn sàng thì lễ hội bắt đầu tiến hành theo các bước sau:

- Lễ đón rước trang phục của nữ thần Po Inư Nưgar:

Như trên đã trình bày y trang của nữ thần Po Inư Nưgar do nguời Raglai nắm giữ. Đến ngày lễ thì đoàn người Raglai chuyển xuống cho người Chăm. Người Chăm làm lễ đón rước và cùng người Raglai tham gia cúng lễ, múa đánh mã la tại đền Po Nưgar Hữu Đức trước ngày lễ một đêm.

- Lễ mở cửa đền (Pơh băng yang): Sau khi lễ rước trang phục kết thúc thì sáng ngày hôm sau các tu sĩ xin phép thần Siva (Po Ginôr Mưtri) làm lễ mở cửa đền. Lễ này được sự điều hành bởi cả sư (Po Dhia) và ông từ giữ tháp (Camưnay) và nghi thức hành lễ giống lễ mở cửa tháp trong lễ hội Katê.

- Lễ tắm tượng Po Inư Nưgar (Mưney yang): Lễ tắm tượng thần được diễn ra bên trong đền. Lễ này gồm có thầy cả sư, thầy kéo đàn Rabap, bà bóng, ông từ và một số tín đồ nhiệt thành thực hiện. Khi mọi người đã ngồi vào bàn lễ, xung quanh bệ thờ thần thì bà bóng rót rượu dâng lễ, thầy kéo đàn Rabap bắt đầu hát lễ theo. Bài hát lễ tắm Nữ thần có đoạn:

Chúng con lấy nước từ sông lớn,
Chúng con đội về tháp tắm thần
Chúng con lấy những tấm khăn dệt đẹp nhất,
Lau mồ hôi trên mình, tay chân của thần
(Jhuak ia di kraung praung,
klak ba mai la ai ngak di yang Po
Mưk jiêp ka Po nhjam ia huơp di trey,
Ka Po nhjam takay)

Trong tháp thầy kéo đàn Kabap đang hát thì ông từ (Camưney) cầm lọ nước tắm lên tượng đá, mọi người bắt tay cùng nhau tắm thần. Lúc này những tín đồ nhiệt thành lấy nước từ trên thân tượng bôi lên đầu, lên thân thể mình để cầu sức khoẻ, tài lộc, may mắn, cầu con đàn cháu đống.

- Lễ mặc trang phục cho tượng thần (Angui khan aw Po yang): Sau lễ tắm thần thì đến nghi lễ mặc áo cho thần. Lễ thức được tiến hành tuần tự theo lời hát lễ của thầy Rabap (Kadhar). Lời thầy hát lễ đến đâu thì trang phục thần được mặc vào đến đó. Đầu tiên là lễ mặc váy. Lời thầy hát lễ như sau:

Lấy nước từ con sông thiêng tắm thần e, e, e
lấy áo của thần bày ra mặc cho thần
Po Inư Nưgar đã hiện hình,
bước xuống trần gian dự lễ e, e, e, ha, ha... Po Inư Nưgar

(Ha mưney cha kraung blang aw mưney e, e, e
satak kraung blang aw Po Inư nưgar
Bi blang aw bi Po bi Po,
Yang Po Inư Nưgar tamư khin wơk drey bi Po...)

Lấy nước từ con sông thiêng tắm thần e, e, e,
nữ thần giáng trần đạp chân xuống trần gian
Nữ thần hiện ra từ đền tháp Chăm - Việt,
từ đất Phan Rang, Phan Rí, lòng sông
(Ha mưney yang Po Inư Nư gar e, e, e
trun di nan mai talek takay trun bal ala
Trun di kanưng trun bimuôn yuơh Chăm birou,
Trun di karaung, Parik)
...
Vàng bạc của cải dâng hiến thần,
nữ thần biến mình thành vàng lấp lánh
Lá vàng trầu cau để trên khay,
Lá vàng đây chúng con dâng cúng cho thần

(Mưh sa lilang la um rilo ai um,
Bicey luak jai di mưh)
Mưh siam lamư hala guơc ayơt,
Brah kak paliêng hala kanư suk siam
Mưda payak tok jiư payak)
....

Khi thầy Kadhar kéo đàn Rabap hát thì Camưney (ông từ), Muk Pajau (bà bóng) mặc váy, áo cho tượng thần. Cứ như vậy cho đến kết thúc bài hát.

Đại lễ (mưliêng yang): Sau khi lễ mặc trang phục hoàn tất, lúc này tượng thần đã mang trên mình áo màu lộng lẫy, thì cũng là lúc lễ vật dâng cúng được bày ra trước tượng thờ. Đại lễ bắt đầu, lúc này cả sư (Po hia) làm chủ điều khiển nghi lễ, bà bóng dâng lễ vật, thầy kéo đàn Rabap hát mời nữ thần về dự lễ. Bài hát có đoạn như sau:

- Hát về nữ thần Po Nưgar Taha (dauh kanư yang):
Sinh ra đất đai sinh ra con người,
Sinh ra gỗ trầm hương là thần Po Inư nưgar

Sinh vạn vật trên đời,
Dựng lên làng xóm ruộng vườn là thần Po Inư Nưgar
(Jương tanưh hư pajương li kau,
mưng jương galau yang Po Inư Nưgar
Mưng jương tanưh jương drey,
Mưng jương palei yang Po Inư Nưgar)
....

Từ thiên đường thần hiện về,
Mang theo mùi hương múa mới
Bay khắp cõi dân gian hạt lúa mầm,
Thần biến mình vào lại cây to
(Po par mưng thuơr mưrai,
bâu huơp padai apuh bi njaung
iđong siam Po đong di jrai...)

Khay trầu lễ dâng thần thoả thích,
Têm trầu bay phảng phất mùi thơm,
Trầu cau vị thần sinh ra,
thần lại biến phép thần thông về hưởng lễ trầu cau
Lỡ chân bước xuống trần,
thần đạp đổ tung khay trầu câu làm bằng phép
Chân giáng trần trượt ngã phù hộ, độ trì chúng con

(Hala chabak tal Inư krư,
urak gar ngan ginuk
Mưrai Po pathiêng hala,
Kagun canâu mưng da Po paliêng hala
Tablat takai jwak jalơh,
Kagun canâu takai Inamư Po pinưng hala
Takai jwak talơh takay ala ayơt)
...

- Hát về thần mẹ xứ sở Hamu Ram
Ai thấy tháp cao đẹp,
Xa đằng kí là tháp Po Inư Nưgar
Bà bóng ngồi dâng hạt lúa trắng (lúa nổ)
Tay cầm lộng che mát cho thần

(They boh bimôn praung klong,
bimôn rah kruang yang Po Inư Nưgar
Pajau grơn gar kaman,

Bà bóng ngồi cầu khấn,
Kính dâng lễ vật mời thần Po Inư
Xứ sở Nữ thần ở Phan Rang,
thần mẹ theo chồng đi xứ người ta
(Pajau grơn gar payak,
payak da a yang Po Inư Nưgar
Bhum dauk di ngauk parang,
Nai tui pasang nau bhum mi...)

Từ xứ rừng sinh ra em
Lá lúa dệt nên tắm chiếu nằm
Anh sinh ra từ xứ rừng
Lá lúa dệt nên áo mặc cho ta
(Tabiak di ram jương adey,
hala patay jương cieu Ita
Tabiak di ram jương sa ai
Hala paday jương aw Ita...)

- Hát về Nữ thần xứ Lòng sông (Pajai - Bình Thuận):
Ai đi xứ lòng sông cho ta nhắn gửi
nhấn gửi lời đến Nữ thần Bia Atakal
Ai đi xứ lòng sông, đường đi không khó,
Có em ta là Bia Atakal
(They nau pajai lac hai,
lac thong nau Bia Atakal
They nau pajai lac hai,
Gilac di adey Bia Atakal...)

Cứ như thế thầy kéo đàn Rabap hát mời Nữ thần và cùng mời các vị thần khác như Po Klaung Garai, Po Rame, Po Sah, Po Klaung kasat Po Par... về dự lễ. Mỗi vị thần đều có một bài hát lễ riêng như ở lễ hội Katê vừa trình bày. Tuy nhiên vì đây là lễ cúng Nữ thần nên phần hát và cúng lễ về nữ thần là lễ chính. Còn các vị thần khác trong lễ cúng nữ thần vừa nêu trên chỉ là vị thần ăn theo trong hệ thống đa thần của thần linh Chăm. Trong lúc kéo đàn Rabap hát lễ thì thầy cả sư (Po Adhia) làm phép đọc kinh cầu nguyện xin thần về hướng lễ vật mà phù hộ độ trì dân làng. Lễ cúng Po Inư Nưgar được kết thúc bằng vũ điệu múa thiêng của bà bóng và những người dự lễ cùng tham gia múa mừng tạo nên không khí lễ hội sôi động ở các đền tháp Chăm.

Trong lễ cúng tế Po Inư Nưgar còn có tục hát ru, tục dâng gạo lễ (tuh brah) do thầy Kadhar kéo đàn Rabap thực hiện. Bà con dự lễ còn đem lễ vật đến dâng cúng. Những người hiếm muộn con cái thì cầu sinh được con đàn cháu đống; những người ốm đau thì cầu sức khoẻ và nông dân thì cầu được tài lộc, mùa màng tốt tươi.

Trong lễ cúng Nữ thần Po Inư Nưgar Hamu Kut Bính Nghĩa (Ninh Hải - Ninh Thuận) còn diễn ra tục hát đối đáp, múa phồn thực. Những bài múa hát phồn thực là những câu ca, điệu múa mang chủ đề về thiên nhiên, đất nước, về tình yêu nam nữ. Tất cả nội dung đều hướng đến một ý niệm phồn thực để cầu xin cho con người, vật nuôi, cây trồng sinh sôi nảy nở; ruộng được mùa, tôm cá đầy khoang... Tất cả đều gợi lên một cuộc sống sung mãm, thanh bình, thịnh vượng và êm ả. Chính tục hát đối đáp, múa phồn thực Chăm, cùng với điệu múa quạt truyền thống mang tính tập thể với tiếng trống Ginăng, kèn Saranai...đã tạo nên một ngày hội cúng nữ thần ở các đền tháp Chăm.

Lễ hội Chabun là lễ hội cúng Nữ thần quan trọng trong đời sồng tâm linh Chăm. Chính vì vậy mỗi năm người Chăm đều tổ chức lễ hội để cúng thần mà đại diện là Thần mẹ xứ sở vĩ đại Po Inư Nưgar. Trong tâm thức người Chăm, mẹ là thiêng liêng mẹ là tất cả, cho nên mỗi vùng, mỗi nơi, người Chăm đều xây dựng nhiều đền tháp đẹp để thờ thần mẹ. Qua một số bi kí, những lời ca, tục cúng chúng ta không chỉ thấy người Chăm dâng lên lễ vật, vàng bạc châu báu, áo quần, lộng che, kiệu kiêng với nhiều hoa văn đẹp cho thần mà người Chăm còn có những bài thánh ca cầu cúng thần với những lời văn đẹp, bóng bảy, những từ mỹ lệ như gỗ trầm hương, hoa trái, hát lúa trắng, ruộng đất, vườn cây... để hát kể về nữ thần. Do đó lễ hội cúng Nữ thần - Chabun trở thành điểm hội tụ về nghi thức cúng nữ thần Chăm mà hình tượng Po Inư Nưgar là hình tượng chung điển hình và đẹp nhất. Hình tượng ấy, đã trở thành một biểu tượng chung của tục thờ mẫu (mẹ) trong đời sống mẫu hệ của người Chăm mà hàng năm họ vẫn còn cầu cúng, suy tôn. Lễ hội Chabun, chính là lễ hội đặc trưng của dân tộc có tín ngưỡng thờ mẫu (Mẹ) mà cụ thể là Nữ thần mẹ xứ sở vĩ đại – Po Inư Nưgar. Nữ thần mẹ xứ sở đã thực sự ăn sâu vào tâm trí mọi người Chăm suốt bao thế hệ. Ở diện hẹp nữ thần ấy chính là thành, là thần hoàng của một làng và ở diện rộng nữ thần là thánh chúng của cả nước, của cả dân tộc.

Nói chung, hệ thống lễ hội của người Chăm ở các tháp Chăm như lễ Mở cửa tháp, lễ Cầu đảo, lễ Katê, lễ Chabun mặc dù các lễ có một số đặc điểm giống nhau trong các bước hành lễ như lễ rước trang phục, mở cửa tháp, đại lễ, nhưng mỗi lễ lại mạng một ý nghĩa, quy mô khác nhau và có nét độc đáo riêng. Trong đó phải nói là lễ hội Katê Chăm là nơi hội tụ, qui mô nhất trong hệ thống các lễ hội liên quan đến đền tháp Chăm. Lễ hội Katê chính là nơi hội tụ sinh hoạt cộng đồng, là nơi diễn xướng dân gian đặc sắc nhất trong kho tàng văn hoá Chăm. Lễ hội diễn ra trong một không gian rộng lớn, từ đền tháp (Bimôn, Kalan) – Làng (Palei) đến gia đình (Mưngawôm). Lễ hội thực sự cuốn hút tất cả mọi thành viên trong cộng đồng - ở tất cả các cấp độ, khiến cho không một người nào bị bỏ quên mà liên kết họ lại trong một môi trường văn hoá, tín ngưỡng đặc sắc. Lễ hội Katê nói riêng hệ thống lễ hội ở đền tháp Chăm nói chung chính là dịp cho người Chăm phô bày sắc thái văn hoá của dân tộc mình. Chính vì vậy mà lễ hội không chỉ đem đến cho người dự hội những vẻ đẹp của tháp Chăm cổ kính, những sản phẩm của nghề trồng lúa và đi biển thông qua lễ vật dâng cúng mà nó còn trình diễn trước công chúng một nền ca – múa - nhạc dân gian giàu bản sắc riêng. Lễ hội Katê thực sự là ngày hội lớn trong toàn bộ hệ thống lễ hội của người Chăm.

(Trích trong: "Lễ hội của người Chăm" - Tác giả: Văn Món - Sakaya)

 


© Trung Tâm Tin Học - VNPT Ninh Thuận Quản Lý và Thực Hiện
Địa chỉ: 217A Thống Nhất Phan Rang Ninh Thuận - ĐT: 068.823507 - Fax: 068.831677
Email:
webmaster@ninhthuanpt.com.vn