|
Tín ngưỡng:
|
 |
|
Các vị chức sắc Chăm |
Tín ngưỡng của người Chăm phong phú, đa dạng. Là bộ phận cấu thành
nền văn hoá Chăm, tín ngưỡng người Chăm chi phối sâu sắc trong đời
sống cộng đồng và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Tín
ngưỡng sơ khai, tín ngưỡng liên quan đến thờ cúng tổ tiên, tín
ngưỡng liên quan đến sản xuất nông nghiệp, lễ nghi vòng đời
người…Hiện nay trong đời sống người Chăm vẫn còn tồn tại hình thức
tô tem giáo thể hiện qua tục thờ các loại cây, thờ dòng núi (atâu
cơk) và dòng biển (atâu tasik) của các dòng họ Chăm. Tín ngưỡng
người Chăm, ngoài lễ nghi liên quan đến chu kì vòng đời người như
lễ cúng đứa trẻ mới sinh, đám cưới, đám tang, lễ nhập kút… họ còn
có các nghi khác như lễ hội múa Rija Harei (lễ múa ban ngày)…Ngoài
lễ nghi trên họ còn cúng tế các lễ nghi nông nghiệp như lễ cúng
thần lúa (yang sri), lễ xuống cày (ngak yang trun li-oa), lễ đắp
đập khai mương (trun jamưng hatăm). Cùng với các lễ nghi đó người
Chăm tôn thờ các vị thần núi thần sông, thần sấm sét, thần mặt
trời, thần đất, thần sóng biển…
Từ sự phong phú và đa dạng về lễ nghi tín ngưỡng, người Chăm hình
thành một tầng lớp thầy cúng dân gian. Theo số liệu thống kê hiện
nay ở Ninh Thuận có tới 22 thầy cúng đuổi tà ma (On tiap bhut), 13
thầy Kadhar (thầy kéo đàn Rabap cúng tế đền tháp và lễ nghi dân
gian), 09 thầy Ka-in (thầy bóng), 03 bà bóng (Muk PaJâu) và 36
thầy Mưduôn (thầy vỗ trống Baranưng cúng lễ múa Rija). Hiện nay
tầng lớp thầy cúng tín ngưỡng này đã có tuổi đời từ 60-80 nhưng
chưa có người kế tục. Vì tuổi già, họ đã lần lượt ra đi đã kéo
theo sự biến mất một số lễ nghi Chăm như lễ đuổi tà ma, chữa bệnh
bằng bùa chú, và một số lễ nghi nông nghiệp. Ngày nay tín ngưỡng
Chăm tuy một số không còn phù hợp với cuộc sống nữa nhưng từ lâu
nó là một bộ phận của đời sống tâm linh. Tín ngưỡng người Chăm là
hạt nhân cơ bản hình thành nên diện mạo tôn giáo, lễ hội Chăm.
Tôn giáo:
 |
Từ lâu khi nói đến tôn giáo Chăm thì các nhà nghiên cứu thường
phân chia người Chăm thành 3 nhóm tôn giáo khác nhau: Chăm
Bàlamôn, Chăm Hồi giáo Bàni và Chăm Hồi giáo mới (Islam). Thực ra
cái gọi là tôn giáo Chăm không có gì là giống Bàlamôn hoặc Chăm
Hồi giáo mà họ chỉ gọi theo cách gọi truyền thống của họ từ xưa
đến nay là Chăm Ahiêr để chỉ Chăm ảnh hưởng Hồi giáo. Chăm Ahiêr
là Chăm thờ cúng tổ tiên (muk key, trauk patra), xây dựng đền tháp
để thờ vua thần; còn tục thờ thần Siva Ấn Độ rất mờ nhạt, chủ yếu
là thờ các vị anh hùng dân tộc, anh hùng văn hoá. Chăm Ahiêr còn
có tục chết làm đám thiêu có chặt đầu, có làm lễ nhập Kút, làm lễ
hội múa Rija và thờ cúng thánh Âuah (Alla) và tổ chức lễ hội Katê…
Còn Chăm Awal - Chăm ảnh hưởng Hồi giáo là Chăm thờ cúng tổ tiên
(ieu muk key, chết chôn, làm lễ hội múa Rija, xây dựng thánh đường
(sang mưgik) thờ thánh Âuloah (alla), làm lễ Ramưwan và có cả thờ
cúng thần Yang Chăm Ahier nữa như Po Kluang Garai, Po Rame… Chăm
Ahier và Chăm Awal tuy hai môn phái khác nhau nhưng là một, không
tách rời nhau. Chăm Ahier đại diện có tu sĩ Paseh là Nữ, để tóc
dài, búi tóc, tượng trưng cho Âm. Ngược lại Chăm Awal có tu sĩ Po
Acar là Nam, không để tóc, mặc y phục có trang trí hình Linga,
tượng trưng cho Dương, như vợ với chồng. Như vậy, cả hai Chăm
Ahiêr và Chăm Awal tuy hai nhưng lại là một không tách rời được
nhau như Âm với Dương, như vợ với chồng. Như vậy, cả hai Chăm
Ahiêr và Chăm Awal không giống như tôn giáo Bàlamôn và Hồi giáo
thế giới mà chỉ có ảnh hưởng mà thôi. Vì vậy không thể gọi họ là
Chăm Bàlamôn và Chăm Hồi giáo mà chỉ được gọi là Chăm Ahiêr và
Chăm Awal.
 |
Theo kết quả của
các nhà nghiên cứu, ngoài tín ngưỡng bản địa, người Chăm có ảnh
hưởng nhiều tôn giáo khác nhau từ bên ngoài vào như Bàlamôn giáo,
Phật giáo và Hồi giáo. Mỗi tôn giáo du nhập vào người Chăm ở mỗi
thời kỳ lịch sử khác nhau và ảnh hưởng mức độ đậm nhạt khác nhau.
Ngoài ảnh hưởng Bàlamôn giáo và Hồi giáo thì vào thế kỷ IX, Phật
giáo (Đông Dương) cũng chiếm vai trò quan trọng một thời trong đời
sống vương triều Champa.
Hiện nay người Chăm
còn tồn tại hai cộng đồng dân cư cơ bản: Chăm Ahiêr (ảnh hưởng
Bàlamôn) và Chăm Awal (ảnh hưởng Hồi giáo). Trên thực tế ảnh hưởng
hai tôn giáo này không tồn tại và phát triển cùng một lúc mà nó là
tôn giáo bên ngoài du nhập vào ở các thời điểm khác nhau. Ngay từ
đầu công nguyên, cùng với văn hoá Ấn Độ, đạo Bàlamôn được truyền
vào Champa và được người Chăm tiếp nhận, xây dựng đền tháp để thờ
các vị thần Siva, Brahma, Vishnu. Và về sau họ tôn thờ cả các vị
anh hùng văn hoá, dân tộc của họ. Vấn đề này còn biểu hiện rõ trên
đền tháp, bia kí suốt dọc dải đất Miền Trung như các đền tháp ở Mỹ
Sơn, Trà Kiệu, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình
Thuận. Nói chung đạo Bàlamôn được truyền bá vào người Chăm, trên
cơ sở giao lưu và tự nguyện. Người Chăm định cư ở dải đất miền
Trung Việt Nam với vị trí thuận lợi, nơi giao lưu nhiều ngả đường
ở Đông Nam Á, người Chăm tiếp thu đạo Bàlamôn và cải biên nó trên
cơ sở bản địa hoá tạo nên một đạo Bàlamôn mang sắc thái riêng
Chăm.
 |
Hiện nay người Chăm
- ảnh hưởng đạo Bàlamôn mà họ tự gọi là Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận có
số dân khoảng 32. 152 người, sinh sống ở 15 làng palei và tôn thờ
3 đền tháp (đền Po Inư Nưgar, tháp Po Kluang Garai và tháp Po
Rame). Người Chăm Ahiêr có tầng lớp tu sĩ gọi là Paseh. Họ có sắc
phục riêng, mặc áo màu trắng, mặc váy, búi tóc ở đỉnh đầu, quấn
khăn đỏ và trong cuộc sống hằng ngày có nhiều kiêng cữ. Hiện nay ở
Ninh Thuận có tất cả 38 vị Paseh, trong đó đứng đầu là 3 vị cả sư
(Po Dhia) phụ trách cúng lễ ở 3 đền tháp: tháp Po, Inư Nưgar (Hữu
Đức – Ninh Phước), tháp Po Kluang Garai (Tháp Chàm), tháp Po Rame
(Hậu Sanh – Ninh Phước) đồng thời phụ trách cúng lễ cho các tín đồ
như lễ tang (đám thiêu), lễ nhập kút… Ngoài 3 tháp trên, mỗi làng
palei Chăm đều có đền làng (danok) để thờ thần. Hàng năm các tu sĩ
Ahiêr cùng với các chức sắc tín ngưỡng tổ chức cúng lễ ở các đền
tháp như lễ mở cửa tháp (pơh băng yang), lễ tế thần lửa (cuh yang
apui), lễ hội Katê (lễ cúng các vị nữ thần), trong đó đặc biệt là
lễ hội Katê - lễ hội lớn nhất hàng năm của người Chăm Ahiêr.
Còn Hồi giáo du
nhập vào Champa muộn hơn so với đạo Bàlamôn. Theo tác giả Ed.
Huber đã tìm thấy trong sử nhà Tống một câu thức tựa bộ “Ala hu
akba”, đó là câu kinh thông dụng của người Hồi giáo được nhắc đến
trong lời cúng tế cầu thánh Alla. Ông tin rằng vào thời nhà Tống
đã có người Chàm theo Hồi giáo. Một tư liệu khác là ở vùng biển
phía nam Champa, người ta đã tìm thấy hai tấm bia có niên đại là
1025, 1039. P. Tác giả Ravaisse đã dịch nội dung hai tấm bia này
và khẳng định vào thế kỉ X-XI các thuyền buôn các nước Ả Rập, Ba
Tư - những người theo đạo Hồi đã có mặt ở Champa và có quan hệ
buôn bán với cộng đồng người Champa ở ven biển Miền Trung. Một sự
kiện khác khá quan trọng, thế kỉ thứ XIII, vua Chăm InravarmanIII
cưới Công chúa người Hồi giáo - Java là Bia Tasi và từ thời điểm
này ảnh hưởng Hồi giáo mới thực sự đi vào cung đình Champa. Tuy
nhiên có ý kiến cho rằng phải đến thế kỉ XVI - XVII, triều vua Po
Rame (1627 - 1651) thì ảnh hưởng Hồi giáo mới phổ biến, lan rộng
vào cung đình Champa và trong dân chúng.
 |
Nói chung, hiện nay
người Chăm có ba nhóm Chăm chính: nhóm Chăm Ahiêr - ảnh hưởng
Bàlamôn; nhóm Chăm Awal ảnh hưởng Hồi giáo và nhóm Chăm Islam -
Hồi giáo chính thống. Trong lịch sử hai nhóm Chăm Ahiêr và Awal đã
từng xung đột, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau. Chính điều này còn
gây nên sự mâu thuẫn, đối lập nhau trong một thời gian dài. Để
giải quyết mâu thuẫn, đối lập này, cộng đồng người Chăm ở đây Ninh
- Bình Thuần (Pânduranga) đã biết vận dụng quan niệm lưỡng hợp để
dung hoà hai nhóm Chăm: Ahiêr - ảnh hưởng Bàlamôn tượng trưng cho
phái nam (dương tính) và Chăm Awal - ảnh Hồi giáo tượng trưng cho
phái nữ (âm tính). Đây là hai mặt đối lập nhưng lại là một, họ gắn
bó chặt chẽ với nhau. Do vậy trong quan niệm người Chăm, giữa Chăm
Awal và Chăm Ahiêr, tuy hai nhưng lại là một, họ gắn bó chặt chẽ
với nhau không thể tách rời. Sự gắn bó này được biểu hiện trên các
mặt giáo lí, nghi lễ, sắc phục, tục cúng tế, lễ hội và có cả qui
định chung về những điều luật (hakum - adat) nhằm thống nhất với
nhau trong hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng.
Vấn đề tôn giáo
Champa, cũng như nhiều quốc gia cổ đại khác ở Đông Nam Á, người
Chăm không kì thị tôn giáo mà ngược lại bao trùm lên toàn bộ lịch
sử Champa là sự tiếp nhận, ảnh hưởng, dung hòa tôn giáo khác nhau.
“Người dân Champa tiếp nhận tất cả: đức hiếu sinh, từ bi của phật
giáo, tình thương của Vishnu giáo và cả quyền lực Siva giáo”. Và
sau này còn dung hợp luôn cả thượng đế Alla (Po Âuloah) của Hồi
giáo nữa (S. K. Y nhấn mạnh).
Nói chung tôn giáo
Chăm, tuy chỉ có ảnh hưởng nhưng đã có tác động tích cực vào trong
quá trình phát triển lịch sử, văn hoá, xã hội và ngày nay vẫn còn
chi phối mạnh mẽ trong đời sống người Chăm. Kết quả sự ảnh hưởng
tôn giáo đó đã sản sinh nhiều đền tháp, tượng thờ, nghi lễ, tục
cúng tế…, góp phần quan trọng trong việc hình thành nên sắc màu đa
dạng của lễ hội, của nền văn hoá Chăm.
(Trích trong "Lễ
hội của người Chăm" - Tác giả: Văn Món - Sakaya)
|
|